6 thg 9, 2007

Bắt mạch thị trường

NĐT chứng khoán vĩ đại phố Wall, Jesse Livermore (1877-1940) đã từng nói: "Thị trường có thể thay đổi, công ty tham gia niêm yết trên thị trường cũng có thể thay đổi, nhưng bản chất NĐT thì nói chung rất ít thay đổi - họ là những NĐT cá nhân tham gia TTCK và mang tâm trạng của mình để giao dịch chứng khoán.

... Chính vì thế, nắm bắt tâm lí NĐT chính là cách bạn có thể tự tin tham gia mua bán cổ phiếu"...

Lịch sử đang lặp lại?

Ngày 4/9/2007, chỉ số Vn-Index tăng mạnh trở lại sau ngày nghỉ lễ 2/9, các tín hiệu thị trường cho thấy TTCK Việt Nam đang chuẩn bị cho đợt bứt phá mới sau thời gian giao dịch trầm lắng. Thị trường đã khởi sắc sau nhiều thông tin khả quan như: Sự đánh giá khả quan về thị trường của HSBC; Chính phủ bật đèn xanh và lên kế hoạch cổ phần hoá các doanh nghiệp lớn như Vietcombank; nền kinh tế vĩ mô ổn định và Chính phủ thực sự đang có những biện pháp hiệu quả ngăn chặn tăng chỉ số giá tiêu dùng. Tại sao thị trường đã khởi sắc đúng thời điểm tưởng được coi là tồi tệ nhất trong năm nay, lúc mà niềm tin của NĐT đang lung lay nhất? Nhìn lại TTCK Việt Nam vài năm qua có thể thấy, diễn biến thị trường bị ảnh hưởng rất lớn bởi tâm lí của hầu hết NĐT cá nhân đã hình thành nên những chu kỳ khá rõ ràng! Từ tháng 10/2005, sau một thời gian dài ngủ yên, thị trường đã có những bước tiến nhất định nhờ quy định tăng tỉ lệ sở hữu của NĐTNN từ 30 lên 49% và các thông tin tốt về triển vọng thị trường. Điều đó đã giúp cho chỉ số chứng khoán liên tục duy trì xu hướng tăng, Vn-Index đạt tăng từ ngưỡng gần 300 điểm vào cuối năm 2005 lên mức 612 điểm vào ngày 3/5/2006, Vn-Index đã mất hơn 30% giá trị và giảm xuống mức thấp nhất của năm 2006 là 399 điểm. Và đây cũng là đáy của thị trường bởi ngay lúc tâm trí bi quan nhất bao trùm thì các NĐT đã chứng kiến sự khởi sắc trở lại và giao dịch ổn định tại mức 500 điểm.

Tới tháng 11/2006, TTCK Việt Nam liên tục đón nhận những thông tin khả quan nhất, thời kì vàng của TTCK đã đến. Ngay cả những chuyên gia kinh tế kinh nghiệm nhất và các NĐT kì vọng nhất cũng không thể tưởng tượng nổi sự phát triển đột phá của thị trường. Ngày 12/3/2007, Vn-Index đạt mức cao nhất trong lịch sử 7 năm hoạt động: 1170,67 điểm và khi đó bắt đầu là thời điểm đi xuống của thị trường tới nay.

Bắt mạch thị trường?

Dễ nhận thấy, TTCK dần hình thành xu hướng biến động khá rõ nét. Điều gì đã làm nên chu kỳ này? Trước hết, đó là tâm lý đám đông của hầu hết các NĐT cá nhân trên TTCK, tiếp đó phải nói tới chu kỳ của nền kinh tế nói chung, chu kỳ tăng giá thường diễn ra những tháng đầu năm được coi là thời điểm tổng kết năm tài chính, và lên kế hoạch chia lợi nhuận cho cổ đông của các doanh nghiệp niêm yết. Ngược lại, chu kỳ giảm giá lại thường rơi vào các khoảng thời gian mà nền kinh tế nói chung đang ở chu kỳ tích luỹ, là thời điểm mà hầu hết công ty niêm yết tiến hành thu tiền của NĐT cho đợt phát hành cổ phiếu mới để tăng vốn...

Nắm bắt được những chu kỳ này của TTCK không chỉ giúp cho các tổ chức lớn trên thế giới mạnh tiếng nhận định về TTCK Việt Nam. Rõ ràng đó chỉ là những nhận định mang tính định hướng cho giao dịch ngắn hạn!

Đứng trên khía cạnh NĐT, có thể khẳng định về bản chất thị trường là rất tốt, các doanh nghiệp niêm yết đang duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Chính vì thế, bằng cách nắm bắt xu thế đó, chúng ta hoàn toàn có thể làm chủ được đồng tiền của mình một cách chủ động và tối ưu nhất.

Đứng trên khía cạnh quản lí thị trường và các công ty niêm yết, các doanh nghiệp nên tiến hành những đợt phát hành trải rộng, tránh tập trung nguồn cung và cũng là tránh thiệt hại cho ngân sách nhà nước và niềm tin của NĐT. Để không còn những đợt phát hành gây xôn xao dư luận như VF1, hay thất bại của Sudico, Vinare..., rồi phải trì hoãn lên xuống đợt IPO của Vietcombank, Vinaphone. Chính cách xử lý linh hoạt đó sẽ tạo nên một thị trường ổn định hơn.


"Đã đến thời điểm lập quỹ đầu tư mới"

Công ty Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Hà Nội (HFM) vừa tiếp tục công bố việc thành lập quỹ thành viên thứ hai mang tên Vietnam Tiger Fund – Quỹ đầu tư chứng khoán Con Hổ Việt Nam với quy mô 500 tỷ đồng, thời hạn hoạt động 5 năm.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn của chúng tôi dưới đây, ông Phan Anh - Tổng giám đốc Công ty Quản lý quỹ đầu tư Hà Nội cho rằng, việc lập quỹ đầu tư mới lúc này là để tận dụng những “cơ hội vàng” của thị trường.

Tại sao lại chọn thời điểm này để lập quỹ? Những thành viên góp vốn phải đáp ứng những điều kiện gì?

Theo tôi, việc HFM huy động vốn lập quỹ Vietnam Tiger Fund trong thời điểm hiện nay là rất phù hợp. Nền kinh tế Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng tốt và được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Hiện nay, theo nghiên cứu của chúng tôi, thị trường có nhiều cơ hội tốt để đầu tư, nhiều cổ phiếu có mức giá khá hợp lý để mua vào. Nhìn rộng hơn, thị trường chứng khoán Việt Nam tuy đã qua 7 năm hoạt động, nhưng vẫn đang trong giai đoạn phát triển ban đầu, nên cơ hội cho thị trường lớn mạnh hơn còn rất rộng. Do đó, HFM đã quyết định lập quỹ mới trong thời điểm này để tận dụng cơ hội thị trường.

Trong bối cảnh thị trường chứng khoán hiện nay, ông làm gì để có thể thuyết phục được các nhà đầu tư bỏ tiền vào lập quỹ?

Các thành viên sáng lập của Vietnam Tiger Fund chủ yếu là các tổ chức tài chính chuyên nghiệp, các tổng công ty, công ty lớn. Tôi cũng chia sẻ thêm rằng phần lớn các cổ đông của Hanoi Invesment Fund đều tiếp tục tham gia góp vốn vào Vietnam Tiger Fund với quy mô vốn góp lớn hơn.

Điều này cũng phần nào chứng tỏ sự tin tưởng của các thành viên góp vốn đối với chúng tôi. Chúng tôi sẽ nỗ lực hết sức cho sự thành công của Quỹ để đáp lại sự tin tưởng và ủng hộ của các nhà đầu tư

Tại sao thời gian hoạt động của Quỹ lại chỉ là 5 năm mà không phải là lâu hơn, thưa ông?

Thời gian hoạt động ban đầu của Quỹ là 5 năm và có thể thay đổi theo quyết định của Đại hội thành viên Quỹ tùy thuộc vào tình hình phát triển chung của thị trường cũng như tính hiệu quả của Quỹ trong những năm hoạt động sắp tới.

Điều đó có nghĩa Vietnam Tiger Fund hoàn toàn có thể đầu tư vào các dự án 6 năm, 7 năm hoặc dài hơn.

Mục tiêu đầu tư của Vietnam Tiger Fund là nhắm vào các công ty có tăng trưởng cao. Vậy những doanh nghiệp nào có thể đáp ứng được tiêu chí “tăng trưởng cao” của Vietnam Tiger Fund?

Mục tiêu của Vietnam Tiger Fund là đầu tư vào những doanh nghiệp đang hoặc có mục tiêu trở thành doanh nghiệp trong top dẫn đầu ngành, có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt tối thiểu 15%/năm.

Trong đó, quan trọng nhất là tăng trưởng về doanh thu và thị phần. Những ngành nghề mà HFM dự kiến đầu tư gồm tài chính, ngân hàng, chứng khoán, thực phẩm, hàng tiêu dùng, viễn thông, công nghệ thông tin, y tế, dầu khí, bất động sản... Chúng tôi dự kiến sẽ đầu tư vào mỗi doanh nghiệp từ 20 đến 100 tỷ đồng.

Khi đầu tư vào những doanh nghiệp này, vai trò của VTF sẽ được hiểu như thế nào?

Vietnam Tiger Fund có thể đầu tư như các nhà đầu tư tài chính thông thường hoặc với tư cách là một cổ đông chiến lược của doanh nghiệp. Ngoài việc đầu tư nguồn vốn, chúng tôi sẽ hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh nghiệp trong các hoạt động liên quan đến tài chính, huy động vốn tài trợ dự án sản xuất, kinh doanh, tái cấu trúc công ty... nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Đối với những doanh nghiệp chưa niêm yết, chúng tôi sẽ cùng với doanh nghiệp chuẩn bị tốt về nền tảng và xây dựng lộ trình giúp doanh nghiệp niêm yết thành công. Trên thực tế, việc này đã được áp dụng tại một số doanh nghiệp mà HFM đầu tư trong thời gian qua.

Đầu tư vào các doanh nghiệp tăng trưởng, có nghĩa là hiệu quả của VTF đặt ra là khá cao. Ông có thể tiết lộ mức tăng trưởng của quỹ hàng năm cũng như cổ tức dự kiến mà các thành viên được nhận là bao nhiêu?

Quỹ đặt mục tiêu tăng trưởng giá trị tài sản ròng (NAV) tối thiểu 20%/năm và cổ tức đạt tối thiểu 12%/năm. Trong đó, tăng trưởng NAV là mục tiêu quan trọng nhất.

Nhưng như thế không có nghĩa là không có rủi ro?

Lợi nhuận kỳ vọng cao hơn đồng nghĩa với việc rủi ro sẽ cao hơn. Tuy nhiên, song song với mục tiêu tăng trưởng, chúng tôi cũng đặt ra mục tiêu giảm thiểu rủi ro thông qua việc đa dạng hóa danh mục đầu tư và tuân thủ một số hạn chế đầu tư do Quỹ đề ra.

Bên cạnh đó, theo quy định của Luật chứng khoán, một quỹ thành viên không yêu cầu phải có ngân hàng giám sát. Nhưng để đảm bảo tính minh bạch và chuyên nghiệp, Vietnam Tiger Fund đã ký hợp đồng với một trong những ngân hàng quốc tế hàng đầu làm ngân hàng lưu ký và giám sát cho mọi hoạt động của Quỹ.

Khó khăn khi lập một quỹ đầu tư có quy mô 500 tỷ đồng vào lúc này là gì, thưa ông?

Theo các quy định hiện hành, việc huy động nguồn vốn trong nước hiện tại được quy định và kiểm soát khá chặt chẽ như các thành viên góp vốn không được sử dụng nguồn vốn ủy thác hay vốn ngân sách nhà nước để tham gia góp vốn đầu tư vào các quỹ... Do đó, để có thể huy động nguồn vốn của các doanh nghiệp trong nước hiện nay không phải dễ dàng.

Tuy nhiên, với uy tín và năng lực của HFM, Ngân hàng Quân Đội, Công ty Chứng khoán Thăng Long, cùng với sự ủng hộ nhiệt tình của các đối tác, các cơ quan quản lý Nhà nước, có thể nói chúng tôi đã thành công trong việc thành lập Vietnam Tiger Fund - quỹ Việt Nam đầu tiên trong năm 2007.

Kinh nghiệm nào mà ông thấy tâm đắc nhất sau một thời gian quản lý quỹ đầu tư Hà Nội và có thể áp dụng được vào đối với VTF? Nếu có thể, ông cho biết một vài kết quả của Quỹ đầu tư Hà Nội sau gần một năm thành lập?

Tôi cho rằng, đầu tư là một nghệ thuật chứ không phải là một khoa học. Con người luôn là nhân tố quan trọng nhất. Những doanh nghiệp nào có bộ máy quản trị điều hành tốt sẽ là nền tảng vững chắc cho sự thành công của doanh nghiệp đó.

Đối với Hanoi Investment Fund, có thể nói các cổ đông cũng khá hài lòng với kết quả của Quỹ sau gần 1 năm hoạt động. Quỹ đặt mục tiêu lợi nhuận trong năm 2007 là 100 tỷ đồng và chia cổ tức 30%.

Chúng tôi cũng đang tiến hành làm việc với cơ quản quản lý nhà nước để tiến hành chuyển đổi quỹ và tăng quy mô vốn, dự kiến đến cuối năm 2007 hoặc đầu 2008 sẽ hoàn thành.


Mở thêm sàn chứng khoán: Không phải muốn là được!

Vừa qua, lãnh đạo thành phố Cần Thơ đã kiến nghị Chính phủ cho phép lập sàn giao dịch chứng khoán như ở Hà Nội, Tp.HCM.

Tuy nhiên, theo một số chuyên gia tài chính, điều này khó thành hiện thực.

Tại cuộc hội thảo “Xây dựng thị trường vốn và đầu tư tài chính ở ĐBSCL” vừa tổ chức tại Cần Thơ, chuyện nên hay không nên thành lập sàn giao dịch chứng khoán tại Cần Thơ cũng được nhiều đại biểu thảo luận. Trước đó, lãnh đạo thành phố Cần Thơ cũng đã kiến nghị trực tiếp với Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng và Bộ Tài chính, xin được thành lập sàn giao dịch nhằm tăng cường khả năng thu hút vốn, tạo sự sôi động cho thị trường tài chính tại Cần Thơ cũng như cho một số tỉnh vùng ĐBSCL.

Thời gian gần đây tại Cần Thơ, nhiều đại lý giao dịch chứng khoán của một số công ty tài chính, ngân hàng tiếp tục ra đời, cộng thêm các đại lý đã hoạt động từ vài ba năm trước của Ngân hàng Ngoại thương, Công thương... khiến nhiều người kỳ vọng về sự ra đời của một sàn giao dịch chứng khoán trong nay mai.

Dân chơi chứng khoán ở vùng ĐBSCL cũng không ít, từ những người đang làm việc tại các doanh nghiệp cho đến cả những nông dân nuôi cá tra thuộc hàng “đại gia”...

Sự kiện ba công ty dược ở ĐBSCL có tổng vốn điều lệ 270 tỉ đồng, sau khi lên sàn đã nâng tổng vốn lên khoảng 5.000 tỉ đồng (tính đến cuối năm 2006) đã khiến nhiều người kỳ vọng sàn giao dịch chứng khoán sẽ là nơi giúp các doanh nghiệp thu hút vốn, đẩy mạnh đầu tư vào vùng đất này.

Tuy vậy, nhiều thông tin cho thấy hiện nay Ủy ban Chứng khoán Nhà nước không ủng hộ việc thành lập thêm sàn giao dịch chứng khoán.

Và theo ông Lê Nhị Năng, Phó tổng giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM, trong chiến lược phát triển thị trường chứng khoán do Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành chỉ đề cập đến định hướng để sàn giao dịch tại Tp.HCM trở thành trung tâm, còn sàn giao dịch tại Hà Nội sẽ tập trung cho các cổ phiếu OTC...

Bà Trần Thị Thu, nguyên Giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Cần Thơ, thừa nhận: “ĐBSCL hiện chỉ có thị trường tiền tệ là “nổi” nhất. Còn chứng khoán... sắp tới chắc chắn sẽ phát triển, nhưng nhìn chung khó tính đến chuyện đẩy mạnh thị trường tài chính trước năm 2010”.

Phân tích thực tế kinh tế vùng này, TS. Võ Hùng Dũng, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh Cần Thơ, cho rằng: “Tốc độ tăng trưởng GDP vùng này chỉ bằng khoảng 80% so với bình quân cả nước. Cơ cấu kinh tế cũng khác hẳn khi tỷ lệ khu vực I (nông, lâm, thủy sản) chiếm hơn 44% - một tỷ lệ khá cao. Những con số thống kê cũng cho thấy ĐBSCL chiếm đến 77% số hộ nghèo. Thêm vào đó là tỷ lệ dân sinh sống tại các đô thị chỉ khoảng 21% (bình quân cả nước từ 27- 28%), lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm đến 58%. Do đó, có thể thấy là khả năng tiết kiệm của người dân vùng ĐBSCL không cao”.

Cuối năm 2006, tỷ lệ hộ nghèo ở vùng này còn đến 15,72%. Thực tế từ hoạt động của các ngân hàng trong vùng cũng cho thấy, doanh số huy động vốn hàng năm thường chỉ bằng 40% so với doanh số cho vay. Và nhu cầu vay từ phía các doanh nghiệp, người dân... vẫn còn rất lớn, nhưng chưa tiếp cận được với các ngân hàng do thiếu thông tin, không đủ điều kiện, tài sản thế chấp...

“Dân không có tiền thì làm gì có nhiều cơ hội đầu tư”, ông Năng đồng tình. Theo ông, khi thành lập sàn giao dịch chứng khoán, phải tìm hiểu kỹ về nhu cầu đầu tư, thu nhập của người dân... Một số công ty chứng khoán cũng đã về Cần Thơ tìm hiểu, nhưng phải “rút lui” vì nhận ra nhu cầu đầu tư quá thấp. “Nếu một tháng chỉ thực hiện được vài giao dịch thì làm sao đủ trang trải chi phí văn phòng, nhân viên...”, ông nói.

Ông Vũ Hoàng Nam, Giám đốc Ngân hàng Á Châu chi nhánh Cần Thơ, phân tích thêm, GDP của cả vùng ĐBSCL hiện chỉ vào khoảng 9,5 tỉ USD, không đủ làm “sôi động” sàn giao dịch chứng khoán - thường thu hút khoảng một phần ba GDP.

Và giả như sàn giao dịch được thành lập tại Cần Thơ, thì theo ông Năng: “Hàng hóa là gì? Chẳng lẽ “lấy” từ các công ty đang niêm yết tại Tp.HCM về?”. Thực tế hiện nay, số doanh nghiệp tại ĐBSCL có cổ phiếu niêm yết trên sàn chỉ đếm trên đầu ngón tay, phần lớn tập trung vào các doanh nghiệp ngành thủy sản và dược phẩm.

Như tại Cần Thơ, hiện chỉ có Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang đã niêm yết trên sàn và một vài công ty khác đang làm thủ tục niêm yết.

Theo ông Năng, hiện nay nhiều nước trên thế giới đang theo xu hướng chỉ cần một sở giao dịch chứng khoán. “Khi công nghệ thông tin phát triển mạnh, một nhà đầu tư ở tận Cà Mau cũng chỉ cần một cú nhấp chuột nhập lệnh là đã “hòa nhập” với sàn giao dịch tại Tp.HCM”, ông nói.


SCIC tiếp nhận phần vốn nhà nước 30.000 tỷ đồng giá trị thị trường

Hôm nay 6-9, Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) ra mắt Chi nhánh Khu vực phía Nam đặt Văn phòng tại tầng 1 tòa nhà ITAXA 126 Nguyễn Thị Minh Khai, quận 3, TPHCM. Đây là doanh nghiệp đặc biệt trực thuộc Chính phủ, hoạt động trong lĩnh vực đầu tư tài chính theo cơ chế thị trường và bình đẳng về kinh doanh cũng như nghĩa vụ đối với nhà nước.

Tại cuộc gặp gỡ báo giới ngày 5-9, Tiến sĩ Lê Thị Băng Tâm, Chủ tịch HĐQT SCIC cho biết sau 1 năm chính thức đi vào hoạt động, SCIC đã nhận bàn giao phần vốn nhà nước tại hơn 700 doanh nghiệp với giá trị sổ sách vào khoảng 7.000 tỷ đồng, giá tại thị trường tính đến thời điểm hiện tại ước khoảng 30.000 tỷ đồng. Theo dự tính đến cuối năm 2007, SCIC nhận bàn giao phần vốn Nhà nước khoảng 1.000 doanh nghiệp với tổng giá trị tăng lên khá cao.

Khi VIP cho tặng cổ phiếu

Gần đây, thị trường chứng khoán chộn rộn quanh những sự kiện tặng, cho cổ phiếu hoặc chia lại tài sản bằng cổ phiếu với số lượng lớn. Giá những cổ phiếu đó trên thị trường đã bị ảnh hưởng vì những thắc mắc và nghi vấn đã xảy ra về tính trung thực của những giao dịch này.

Xét trên góc độ pháp lý, một số những hành vi “tặng cho” cổ phiếu cần phải có sự xem xét thấu đáo. Đối với những cổ phiếu của các công ty cổ phần mới được thành lập chưa quá 3 năm, dù đã là công ty đại chúng hay chưa, thì các cổ phiếu của thành viên Hội đồng quản trị thường là cổ phiếu của cổ đông sáng lập.

Những cổ phiếu sáng lập này không được phép chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập của công ty. Việc chuyển nhượng chỉ được thực hiện khi có sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông của công ty đó. Quy định này nhằm ràng buộc trách nhiệm của cổ đông sáng lập là phải cam kết sát cánh với công ty.

Hơn nữa, trong các mẫu điều lệ do các Phòng đăng ký kinh doanh, các bộ phận đổi mới (cổ phần hoá) doanh nghiệp hoặc Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đưa ra thường có quy định này. Nhiều công ty sau khi cổ phần hoá có quy định là các thành viên Hội đồng quản trị phải có trách nhiệm nắm giữ số cổ phiếu của mình và không được chuyển nhượng trong vòng 3 năm kể từ ngày có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mới xác nhận công ty cổ phần.

Mặc dù pháp luật quy định như vậy, nhưng một số người đã tìm cách vượt qua giới hạn này. Tại các quy định về công ty cổ phần của Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán, không hề có quy định về “tặng, cho” cổ phần. Do vậy, một số người trong cuộc thường vận dụng đúng pháp luật bằng việc “tặng, cho” số cổ phiếu mà không phải là “chuyển nhượng”.

Việc “tặng, cho” này thường không phải thông qua Đại hội đồng cổ đông mà chỉ phải xin ý kiến của Hội đồng quản trị (nếu điều lệ có quy định) – mà đây là chỗ “anh em” cả nên rất dễ được thông qua. Những cuộc “tặng, cho” thường có giá trị lớn nhưng tính số cổ phần của giao dịch thì không bao giờ bị vượt quá 5%. Bởi vượt quá tỷ lệ này thì Luật Doanh nghiệp yêu cầu phải thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh và là số lượng trở thành “cổ đông lớn” mà Luật Chứng khoán đòi hỏi phải thông báo.

Cách làm của họ như vậy là không trái với các quy định của pháp luật. Để tránh cho thị trường bị “mẫn cảm” với hành vi trên, một số Hội đồng quản trị các công ty đã thông báo rằng, họ đã buộc người chủ sở hữu mới của số cổ phần đó không được bán ra thị trường ngay lập tức.

Tuy nhiên, nhiều người “nghi hoặc” về khả năng thực thi của thông báo đó. Bởi lẽ, những người đó không được coi là cổ đông sáng lập hay thành viên Hội đồng quản trị, cổ phiếu của họ được “tặng, cho” sẽ là cổ phiếu phổ thông và không hề bị ràng buộc về thời hạn nắm giữ. Họ sẽ dễ dàng chuyển nhượng cho người khác mà Hội đồng quản trị không thể kiểm soát được.

Trong cơn sốt chứng khoán vừa qua và hiện nay, một số người có được cơ hội trở thành cổ đông sáng lập của công ty cổ phần mới thành lập hay thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần hoá. Họ biết cách để làm cho giá cổ phiếu của doanh nghiệp tăng cao. Đến một thời điểm nhất định, những người đó đã bán một phần cổ phiếu mà mình nắm giữ. Họ có thể bán “chui” số cổ phiếu đó bằng những “giấy cam kết” hoặc “giấy đặt cọc mua cổ phiếu”, một phương thức phổ biến được nhiều người chấp nhận trên thị trường OTC. Thông qua “bán chui”, họ vẫn là thành viên Hội đồng quản trị hay cổ đông sáng lập và họ vẫn có quyền điều hành doanh nghiệp (ở một chừng mực nào đó, họ có thể làm cho giá của cổ phiếu giảm xuống để mua lại). Nếu không “bán chui” được thì “tặng, cho”. Như vậy, cổ đông và nhà đầu tư khác phải chịu rủi ro.

Trong phương thức quản trị kinh doanh mới ngày nay, nhiều chủ sở hữu doanh nghiệp (bao gồm cổ đông sáng lập, cổ đông lớn) của doanh nghiệp đã coi hành vi sở hữu vốn lâu dài tại doanh nghiệp là sự cam kết “đi theo cuộc hành trình” với các cổ đông và nhà đầu tư khác. Kết quả của hành vi này là tạo được niềm tin của thị trường nói chung về trách nhiệm của họ đối với doanh nghiệp, và gần ngay đó là niềm tin về sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đó tạo ra.

Còn nếu chỉ chú trọng tới “khoản lợi nhuận” trước mắt của cá nhân mình thì sẽ làm cho thị trường mất ngay niềm tin vào doanh nghiệp về sự cam kết và khả năng quản trị cũng như nhiều vấn đề khác. Và như vậy, hậu quả của sự mất niềm tin đó chắc nhiều người cũng hình dung ra, khi thực tế một số doanh nghiệp “tiếng tăm” đã bị lãnh hậu quả.

Template Designed by Douglas Bowman - Updated to Beta by: Blogger Team
Modified for 3-Column Layout by Hoctro