10 thg 9, 2007

Nhận diện các nhóm nhà đầu tư

NĐT tham gia vào TTCK có thể chia làm ba dạng: Tổ chức trong nước chuyên nghiệp, NĐT nước ngoài và NĐT cá nhân. Mỗi NĐT tham gia vào thị trường có thể mỗi người có các chiến lược và quan điểm đầu tư khác nhau, nhưng tất cả đều vì mục đích duy nhất là tìm kiếm lợi nhuận.

NĐT chuyên nghiệp

Tổ chức đầu tư chuyên nghiệp trong nước là ngân hàng thương mại (NHTM), Cty tài chính, Cty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán (CK).

Khối NĐT này giữ một vai trò quan trọng trên TTCK, là những đơn vị kinh doanh CK có tổ chức và chuyên nghiệp trong phân tích đánh giá cơ hội đầu tư, khối NĐT này thường giao dịch CK trên thị trường với khối lượng lớn.

Chiến lược đầu tư là luôn đa dạng hoá, thời gian đầu tư thường kéo dài. Trước khi đưa ra quyết định đầu tư vào một Cty nào, đều được đưa ra cân nhắc phân tích đánh giá rất kỹ càng và chiến lược thời gian đầu tư, mức lợi suất yêu cầu rõ ràng, quyết định đầu tư không bị chi phối bởi những tin đồn hay những luồng thông tin không được xác nhận.

Thời điểm tham gia, việc đánh giá lựa chọn những CP tốt đưa vào theo dõi được thực hiện thường xuyên, khi thời cơ thích hợp đến là "ra tay". Nhờ lợi thế về vốn cộng với tính chuyên nghiệp trong đầu tư cao nên rủi ro trong thời gian trung và dài hạn là khá thấp.

Mọi trường hợp biến động về giá CK lên hay xuống, lãi hay lỗ trong ngắn hạn chỉ là những biến động về mặt con số. Chỉ cần nền kinh tế không ngừng tăng trưởng thì mức lãi bình quân của DN đã được phân tích cơ bản "duyệt" không ngừng tăng lên và CP cũng sẽ tăng giá theo.

Một nguyên tắc cơ bản của NĐT CK chuyên nghiệp là thời gian đầu tư lâu trung và dài hạn, trong thời gian đầu tư nếu lợi suất đạt đến mức yêu cầu thì mới xem xét bán đi. Nói chung khối NĐT này thông thường không tạo ra những biến động về giá CK trên thị trường một khoảng thời gian ngắn.

NĐT nước ngoài

NĐT nước ngoài (NĐTNN) có thể là cá nhân hoặc tổ chức, đây là nhóm NĐT được để ý nhất trên TTCK. Mọi động thái mua bán một hay nhiều mã CK đều gây sự chú ý đến một lượng lớn NĐTTN. Giá trị giao dịch của nhóm này chiếm tỉ trọng bình quân vào khoảng 15%-25% tổng giá trị thị trường, có những phiên tỉ trọng này lên đến 40%.

Nhiều NĐTTN đã không ít lần cố gắng tìm hiểu và giải mã quy luật giao dịch của NĐT ngoại, bởi lượng mua bán của nhóm này tác động rất lớn tới giá CK trong ngắn hạn thậm chí trong cùng một phiên.

Rất nhiều câu hỏi được đặt ra, sao NĐTNN lại mua vào ở thời điểm khi mà phần lớn NĐTTN không dám mua và bán ra lúc ai cũng nghĩ là thời điểm tốt để mua vào? Vì sao NĐTTN cũng chưa dám hoặc ồ ạt mua vào hoặc bán ra một mã trong nhiều phiên liên tiếp?...

Về cơ bản, chiến lược đầu tư trong thời gian trung và dài hạn thì cũng bài bản giống các NĐT chuyên nghiệp trong nước, còn chiến lược ngắn hạn thì rất tinh vi và kỹ xảo. Khi thị trường "lình sình", các phiên tăng giảm đan xen nhau, đây là lúc đấu trí giữa một bên NĐT ngoại đầy kinh nghiệm được hỗ trợ bởi tiềm lực tài chính mạnh và một bên là NĐT cá nhân nhỏ lẻ trong nước chỉ có tiền và niềm tin là vũ khí, chiếm đến hơn 60% tổng NĐT tham gia vào TTCK.

Trong lúc thị trường "lình sình" xu thế giảm là chủ đạo, NĐTNN vẫn có thể "lướt sóng" kiếm lời. Lợi thế về vốn, quan sát ta thấy room của NĐTNN của một số blue-chip đã cạn đồng nghĩa với việc nhóm này đang sở hữu một lượng lớn CK trong tay. Chỉ cần thị trường có phiên tăng giảm là có thể mua bán kiếm lời chênh lệch.

Nguyên tắc giao dịch: Giá giảm thì mua vào, tăng thì bán ra, kể cả trong trường hợp lên không đủ 4 phiên nhưng họ vẫn bán ra được để thu chênh lệch bởi có sẵn hàng trong tay, T+3 coi như bị vô hiệu hoá.

Chú ý quan sát, nhóm NĐT ngoại chỉ tập trung "lướt" những mã mà số lượng sở hữu đã tương đối nhiều như SSI, ACB, REE, GMD, VSH... Khi thị trường giảm, họ lại xem xét mua vào những mã rẻ tiềm năng hơn, cơ cấu lại danh mục. Thực tế hiện nay, thoạt nhìn thì tưởng NĐT nước ngoài vẫn kiên trì mua vào nhiều mã nhưng thực ra họ đang giải bài toán tăng bán giảm mua hết sức chuyên nghiệp và bài bản.

NĐT cá nhân nhỏ

Tâm lý đám đông vẫn là "căn bệnh mạn tính" của NĐT cá nhân, việc thua lỗ của phần đa NĐT cá nhân trong thời gian qua chủ yếu là bị cuốn theo thị trường, không có chiến lược rõ ràng. Mua bán theo cảm tính và sự mách bảo.

Mục đích đầu tư CK là mức lãi hợp lý, còn giá CP chịu tác động chủ yếu bởi quy luật cung cầu, không có CP nào là tăng mãi và giảm mãi, tất nhiên DN đó phải hoạt động kinh doanh phát triển một cách bình thường.

Với mức lãi đầu tư trong thời gian trung và dài hạn từ 15%-20%, chỉ cần NĐT có được một tổ hợp đầu tư hiệu quả, phân tán rủi ro thì mức lãi đầu tư đó chắc chắn có thể đạt được, thay vì cứ chạy theo hết tin đồn này rồi đến tin đồn khác, những cảm xúc lo sợ, tham lam hay a dua theo số đông đan xen lẫn nhau trong hành vi đầu tư khiến việc đầu tư trở nên rủi ro và phức tạp.

Tóm lại, lòng tham vì muốn kiếm tiền nhanh chóng từ phần chênh lệch giá là điểm yếu và là cạm bẫy lớn nhất trong đầu tư CP, cũng là nguyên nhân khiến nhiều NĐT thường xuyên mua đắt bán rẻ.

1.10 bán đấu giá 2,8 triệu CP Gỗ Trường Thành

Tin từ Sở GDCK TPHCM cho biết, ngày 1.10 tới sẽ tổ chức bán đấu giá 2,8 triệu CP của CTCP kỹ nghệ gỗ Trường Thành với giá khởi điểm là 75.000đ/CP. Thời gian phát đơn, đăng ký và nộp tiền đặt cọc từ 10 - 24.9 tại các đại lý đấu giá là các CTCK thành viên của Sở GDCK TPHCM.

CTCP kỹ nghệ gỗ Trường Thành có vốn điều lệ 150 tỉ đồng, có ngành nghề kinh doanh chính là SX đồ mộc, ván trang trí nội thất; mua bán gia công các sản phẩm mộc, nguyên liệu, phụ liệu chế biến gỗ...

HNM phát hành thêm trên 2,95 triệu CP

Tin từ CTCP sữa Hà Nội (mã CK: HNM), Cty sẽ chào bán thêm 2.950.500 CP, trong đó cổ đông hiện hữu sẽ được mua với tỉ lệ 10:3 với giá bằng 50% giá bình quân của 5 phiên trước ngày 23.9.2007.

Đối tác chiến lược của Cty được mua 535.650 CP với giá giảm 20-35% giá chào bán cho cổ đông. CBCNV được mua 300.000 CP với giá bằng giá bán cho cổ đông. Ngày giao dịch không hưởng quyền là 23.9, đăng ký từ 11-31.10. Thời gian chuyển nhượng quyền mua từ 11-29.10. HNM cũng sẽ trả cổ tức 6 tháng đầu năm 2007 ở mức 8% bằng tiền mặt.

3 thành viên HĐQT SAP bán CP

Cty in sách giáo khoa TPHCM (mã CK: SAP) vừa có văn bản gửi TTGDCK Hà Nội thông báo 3 thành viên HĐQT Cty đăng ký bán ra CP. Cụ thể, bà Nguyễn Thị Thảo, ủy viên HĐQT kiêm PGĐ bán ra 4.200 CP. Hiện bà Thảo nắm giữ 18.590 CP SAP, trong đó 14.300 CP hạn chế chuyển nhượng.

Ông Nguyễn Thiện, ủy viên HĐQT kiêm PGĐ bán ra 6.000CP. Ông Thiện hiện nắm giữ 26.000 CP, trong đó 20.000 CP hạn chế chuyển nhượng. Ông Trần Long Thành, Chủ tịch HĐQT bán ra 6.000CP. Ông Thành hiện nắm giữ 26.000CP, trong đó 20.000CP hạn chế chuyển nhượng. Các giao dịch này sẽ được thực hiện từ 7.9 đến 30.12.2007.


Cổ đông nội bộ LBM và BMC bán CP

Theo thông tin từ Sở GDCK TPHCM, từ ngày 10.9, ông Võ Xuân Sơn, thành viên HĐQT Cty khoáng sản và vật liệu xây dựng Lâm Đồng (mã CK: LBM) sẽ bán ra 2.920 CP LBM để cân đối tài chính mua cổ phần phát hành thêm.

Hiện ông Sơn đang nắm giữ 9.310 LBM. Bà Tô Thị Lan Anh - vợ ông Lê Anh Vũ, thành viên HĐQT kiêm kế toán trưởng Cty khoáng sản Bình Định (mã CK: BMC) thông báo sẽ bán ra 4.000 BMC từ ngày 12.9 tới. Hiện bà Anh đang nắm giữ 6.000 BMC.

PET lên sàn TPHCM

Cổ phiếu Cty dịch vụ - du lịch Dầu khí (Petrosetco) sẽ chính thức giao dịch trên sàn TP HCM kể từ 12.9 với mã CK: PET.

Trước đây Cty là thành viên của Petro Vietnam, được CPH từ tháng 9.2006. Cty có vốn điều lệ 555,3 tỉ đồng, trong 6 tháng đầu năm đạt lợi nhuận 18,233 tỉ trên kế hoạch 31 tỉ lợi nhuận cả năm.

Cổ phiếu giá thấp “sáng dần”

Sau một thời gian dài “phập phù”, nhiều cổ phiếu (CP) giá trị thấp - tạm gọi là CP “nhỏ” - đã bắt đầu tăng giá trở lại. Điều này phản ánh đúng những diễn biến của thị trường, đó là các CP “lớn” biến động không nhiều do đã hết “room” - tỉ lệ sở hữu CP cho nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài.

Nhiều NĐT không mặn mà với các CP “lớn”, vừa đầu tư nhiều vốn vừa không thu lợi nhuận cao như trước, họ chuyển hướng sang các CP “nhỏ”. Các NĐT lớn trên thị trường, sau một thời gian bám các CP “lớn”, cũng đang quay lại với CP “nhỏ”, qua đó thu hút những NĐT nhỏ cùng “hâm nóng” lại thị trường. Ngoài ra, những NĐT mới tham gia sàn đã chọn CP “nhỏ” vừa để học hỏi và hạn chế rủi ro.

Cần lưu ý là CP “nhỏ” hay CP “lớn” không đồng nghĩa với tốt hay xấu, điều này phụ thuộc vào yếu tố nội tại của những CP này. Tuy nhiên, thị trường sẽ khó tái diễn tình trạng “nóng, lạnh” bất thường của những loại CP “nhỏ” như đã từng diễn ra vào đầu năm. Cơ sở để đưa ra nhận định này là phần lớn NĐT trên sàn đã có kinh nghiệm và kết quả hoạt động của những đơn vị có CP “nhỏ” là khá tốt.

Nhà đầu tư cần biết (10-9)

Hôm nay (10-9), Sở GDCK TP.HCM vừa công bố xử phạt cảnh cáo 2 đại diện giao dịch của 2 công ty chứng khoán gồm: Công ty chứng khoán Biển Việt và Công ty chứng khoán NH Sài Gòn Thương Tín.

Đại diện giao dịch của các Công ty này đã hủy lệnh giao dịch được đặt trong cùng đợt khớp lệnh định kỳ và nhập lệnh ATO để giao dịch cổ phiếu mới niêm yết phiên đầu tiên.

* Ngày 10-9, Công ty CP Hapaco công bố thông tin về việc HĐQT của công ty đã họp và nhất trí thông qua việc điều chỉnh mức cổ tức đợt 1 năm 2007; cụ thể:

Căn cứ vào kết quả kinh doanh 8 tháng đầu năm 2007 của Công ty CP Hapaco, mức lợi nhuận đã đạt được là 38,8 tỉ đồng, bằng 141,29% kế hoạch Đại hội đồng cổ đông ngày 1-4-2007 đã giao cho HĐQT công ty.

Ngày 4-9-2007, HĐQT CTCP Hapaco đã họp và quyết định điều chỉnh mức tạm ứng cổ tức đợt 1 năm 2007 là 12% bằng cổ phiếu. Giao cho Ban Giám đốc tổ chức thực hiện và xin phép UBCKNN để chốt danh sách cổ đông trong thời gian sớm nhất.

* Ngày 10-9, Công ty CP Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT công bố thông tin về việc HĐQT đã họp và nhất trí thông qua các vấn đề: tăng vốn điều lệ cho Công ty TNHH Hệ thống Thông tin FPT lên thành 250 tỉ đồng; tăng vốn điều lệ cho Công ty TNHH Bất động sản FPT lên thành 250 tỉ đồng; tăng vốn điều lệ cho Công ty TNHH Phân phối FPT lên thành 110 tỉ đồng.

* Bà Cao Thị Lành vợ ông Lương Hùng Minh -Chủ tịch HĐQT CTCP Khoáng sản và Vật liệu xây dựng Lâm Đồng (mã CK:LBM) - sẽ bán 25.000cổ phiếu LBM. Số lượng cổ phiếu đang nắm giữ: 32.300 cổ phiếu. Số lượng quyền mua cố phiếu sẽ nắm giữ sau khi thực hiện giao dịch: 7.300 quyền mua. Thời gian thực hiện giao dịch: từ ngày 17-9 đến 10-10-2007.

* Sở GDCK TP.HCM cấp quyết định số 106/QĐ-SGDHCM chấp thuận đăng ký niêm yết 80.000.000 cổ phiếu (Tám mươi triệu cổ phiếu) cho công ty cổ phần Vincom (VIC).

* Bà Nguyễn Thị Bích Nga,Kế toán trưởng CTCP Nhiên Liệu Sài Gòn (Mã chứng khoán: SFC) sẽ bán: 3.500 quyền mua. Số lượng cổ phiếu nắm giữ trước khi giao dịch: 7.000 cổ phiếu. Số lượng cổ phiếu nắm giữ sau khi giao dịch: 7.000 cổ phiếu. Thời gian dự kiến thực hiện giao dịch: từ 14-9-2007 đến 21-9-2007.

* Sở GDCK TP.HCM đã có công văn số 1669/SGDHCM-NY chấp thuận về nguyên tắc cho Công ty Cổ phần Dệt May Thành Công được niêm yết 18.982.497 cổ phiếu trên SGDCK TP.HCM. Để hoàn tất thủ tục cấp Quyết định niêm yết chính thức, Công ty cần hoàn chỉnh Hồ sơ theo quy định.

Việt Nam - Nòng cốt của "con đường tơ lụa" tín dụng

Đó là phát biểu của Trưởng đại diện Tập đoàn Đầu tư Chứng khoán Hàn Quốc (Korea Investment & Securities Co., Ltd), ông Yu Sang Ho, một nhận xét rất được giới đầu tư chú ý.

Trưởng đại diện Tập đoàn Đầu tư Chứng khoán Hàn Quốc (Korea Investment & Securities Co., Ltd), ông Yu Sang Ho cho biết “Việt Nam - một trong những trục nòng cốt của "con đường tơ lụa" tín dụng, sẽ giúp các định chế đầu tư như chúng tôi có thể tìm cơ hội đồng thời làm cửa ngõ để tăng cường sự hiện diện của mình tại các nền kinh tế đang nổi trên bán đảo Đông Dương như Lào và Campuchia”.

Được biết, ngày 12/9 tới, văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh của Tập đoàn Đầu tư Chứng khoán Hàn Quốc này sẽ chính thức khai trương để bắt đầu triển khai các hoạt động marketing, tìm hiểu thị trường và điều tra thông tin, xây dựng mối quan hệ để tăng cường hơn nữa việc thâm nhập của các công ty Hàn Quốc vào thị trường Việt Nam, trong đó có việc thành lập các công ty chứng khoán tại Việt Nam.

Thông qua việc thâm nhập vào thị trường tín dụng của thị trường đầu tư đầy tiềm năng tại Việt Nam, tập đoàn này đang kỳ vọng sẽ phát hiện những cơ hội kinh doanh mới tại thị trường đang được cho là tăng trưởng nhanh nhất khu vực này.

Thị trường chứng khoán Việt Nam đang được các chuyên gia đánh giá là TTCK phát triển nhanh nhất khu vực. Đến nay, đã có rất nhiều các tổ chức nước ngoài tham gia thị trường như: Merrill Lynch, Morgan Stanley, Vietnam Holding, VCBF2, PRUBF1...


10/9: Nhiều cổ phiếu lớn giảm giá

Khá nhiều cổ phiếu lớn đã giảm giá sau một tuần tăng điểm nhẹ, khiến chỉ số VN-Index mất gần 7 điểm trong phiên giao dịch đầu tuần mới mặc dù số lượng cổ phiếu tăng giá nhiều hơn số giảm giá.

Kết thúc phiên giao dịch sáng 10/9, chỉ số VN-Index giảm 6,99 điểm (tương đương giảm 0,75%) xuống 927,14 điểm.

Trong số 112 cổ phiếu có mặt trên sàn chứng khoán TP.HCM, 51 mã cổ phiếu tăng giá, 40 mã giảm giá và 22 đứng giá. Trong 2 chứng chỉ quỹ, BF1 đứng giá ở mức 11.000 đồng/ccq, còn VF1 giảm nhẹ 100 đồng xuống 30.000 đồng/ccq.

Tổng khối lượng giao dịch (cả cổ phiếu và chứng chỉ quỹ) trong toàn phiên đạt gần 6,25 triệu đơn vị, trị giá 474 tỷ đồng (riêng cổ phiếu đạt 5,53 triệu đơn vị).

Như vậy, đây là phiên có khối lượng cổ phiếu giao dịch giảm nhẹ thứ 3 liên tiếp.

Trong số các cổ phiếu lớn, có khá nhiều gương mặt giảm giá như: BMP (Nhựa Bình Minh) giảm 3.000 đồng, DHG (Dược Hậu Giang) giảm 3.000 đồng, KDC (Bánh kẹo Kinh Đô) giảm 3.000 đồng, PVD (Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí) giảm 3.000 đồng.

Đại gia FPT cũng giảm 2.000 đồng, SAM mất 2.000 đồng, VNM mất 2.000 đồng, PPC giảm 1.500 đồng, IMP giảm 1.000 đồng, ITA giảm 1.000 đồng, NKD giảm 1.000 đồng, SJS giảm 1.000 đồng.

Có thể thấy, hầu hết các gương mặt lớn quen thuộc với các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã quay đầu giảm giá sau khi tăng giá trong tuần vừa qua.

Theo khảo sát của một đơn vị cung cấp thông tin chứng khoán, mặc dầu TTCK tập trung của Việt Nam đang có xu hướng tăng nhẹ trở lại nhờ vào kết quả kinh doanh khá tốt của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn và các dự báo tốt đẹp của các tổ chức tài chính trong và ngoài nước về kinh tế nói chung và TTCK nói riêng, nhưng hầu hết các nhà đầu tư vừa và nhỏ trong nước hiện nay vẫn đang áp dụng chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh”. Đặc biệt, họ sẵn sàng bán ra những cổ phiếu lớn, cổ phiếu của những doanh nghiệp đầu ngành, có triển vọng kinh doanh rất sáng sủa, khi giá cổ phiếu chỉ cần tăng vài phần trăm.

Chỉ có một vài cổ phiếu lớn đứng giá sáng nay bao gồm: GMD, REE, STB, TDH, VSH.

Các cổ phiếu tăng giá chủ yếu thuộc các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Mua lúc giá lên, bán lúc giá xuống

Trong bài viết này, người viết muốn đề cập đến chiến lược đầu tư thuận xu thế (momentum strategy), một chiến lược đầu tư tiêu biểu cho các chiến lược khai thác tính thiếu hiệu quả của thị trường.

Chiến lược thuận xu thế là gì?

Chiến lược thuận xu thế dựa trên một ý tưởng cơ bản là giá cả trên thị trường sẽ di chuyển theo một xu thế nhất định (tăng/giảm) trong một khoảng thời gian tương đối kéo dài. Và điều này chỉ xảy ra trên thị trường thiếu tính hiệu quả (thị trường hoàn toàn hiệu quả thì giá cả sẽ di chuyển ngẫu nhiên, không có xu thế nhất định).

Như vậy, có nghĩa là trên một thị trường “chưa được hiệu quả”, nếu một cổ phiếu mới bắt đầu tăng giá, thì nó có thể sẽ kéo dài xu thế tăng giá trong một khoảng thời gian (theo các nghiên cứu ở nhiều nước về chiến lược thuận xu thế, khoảng thời gian này là vài tuần đến vài tháng).

Từ đó, người ta mới đề xuất ra chiến lược thuận xu thế căn bản: người ta tính tỷ suất sinh lợi trong quá khứ của các cổ phiếu (trong 1 tháng, hoặc 3 tháng, 6 tháng trước đó); sau đó, người ta sắp xếp các cổ phiếu này theo thứ tự giảm dần về tỷ suất sinh lợi trong quá khứ, và chia nhóm các cổ phiếu thành 5 hay 10 nhóm.

Các nhóm cổ phiếu đầu là gọi là nhóm cổ phiếu “đang thắng” (giới đầu tư và học thuật nước ngoài gọi chúng là “winners”) là các cổ phiếu có tỷ suất sinh lợi cao nhất trong vài tháng gần đây, các cổ phiếu thuộc nhóm cuối gọi là nhóm “đang thua” (“losers”), là nhóm các cổ phiếu có tỷ suất sinh lợi thấp nhất trong thời gian gần đây. Và thế là nhà đầu tư sẽ bán khống các cổ phiếu thuộc nhóm “đang thua”, mua vào các cổ phiếu thuộc nhóm “đang thắng”.

Thời gian nắm giữ các cổ phiếu “đang thắng” là ngắn hạn, vài tuần hoặc vài tháng (thường thì thời gian nắm giữ bằng hoặc nhỏ hơn thời gian dùng để tính tỷ suất sinh lợi trong quá khứ. Ví dụ, nếu sắp xếp các cổ phiếu theo tỷ suất sinh lợi trong ba tháng trước đó, thì nên nắm giữ các cổ phiếu “đang thắng” trong khoảng thời gian tối đa là ba tháng tới).

Sau đó, nhà đầu tư sẽ tiến hành sắp xếp lại các cổ phiếu như đã làm, rồi lại mở danh mục mới. Đó là ý tưởng căn bản của chiến lược thuận xu thế, nó tương tự như ý tưởng: cổ phiếu mới đang tăng giá thì mua đi, nó sẽ còn tăng nhiều nữa đó!

Tỷ suất sinh lợi ra sao?

Bạn cho rằng ý tưởng này là điên rồ? Cổ phiếu đang tăng giá vùn vụt thì mới nằm trong nhóm “đang thắng”, mua vào là mua cổ phiếu mắc, trong khi cổ phiếu “đang thua” là thuộc loại hàng rẻ, có khả năng sẽ tăng trở lại. Như thế chiến lược này sẽ có tỷ suất sinh lợi tồi tệ. Thế nhưng, về cả thực tế, lẫn lý thuyết, kết quả là ngược lại.

Tỷ suất sinh lợi của chiến lược này cao hơn mức trung bình của thị trường được lý giải bởi nhiều nguyên nhân, nhiều trường phái, trong đó, trường phái đang giành ưu thế hiện nay (nhưng vẫn chưa vượt trội hẳn) là trường phái tài chính hành vi. Theo đó, người ta cho rằng khi nhà đầu tư hoặc là phản ứng thái quá (over-reaction) với tin tức, hoặc là phản ứng quá chậm (under-reaction) với tin tức, thì sẽ dẫn đến hiện tượng giá tăng, hay giảm kéo dài ở một số cổ phiếu.

Nếu nhà đầu tư phản ứng thái quá với tin tức thì họ đẩy giá lên cao mãi, vì họ kỳ vọng quá nhiều khi nhận được tin tốt. Ngược lại, nếu nhà đầu tư phản ứng quá chậm với tin tức, thì khi nhận ra cổ phiếu đang tốt lên, họ lại sợ rằng mình bị chậm chân, nên thay nhau đổ tiền vào thị trường, khiến cổ phiếu đang tăng giá lại tiếp tục tăng nữa. Dù như thế nào, điều đó cũng làm cho tỷ suất sinh lợi của chiến lược thuận xu thế cao hơn mức bình quân của thị trường.

Các biến tướng và khả năng ứng dụng vào Việt Nam

Ngày càng có nhiều biến tướng của chiến lược thuận xu thế ra đời, bao gồm việc sắp xếp các cổ phiếu không phải theo tỷ suất sinh lợi của từng cổ phiếu trong quá khứ, mà sắp xếp thành các nhóm cổ phiếu theo từng ngành, rồi với ngành có tỷ suất sinh lợi trong quá khứ cao thì mua một danh mục các cổ phiếu của ngành đó, ngành có tỷ suất thấp thì bán các cổ phiếu đó đi (chiến lược này có lẽ giống năm 2006 nhiều người đổ vào mua cổ phiếu ngân hàng vì cổ phiếu ngành này tăng giá quá ấn tượng).

Gần đây, có nhiều đề xuất như sắp xếp các cổ phiếu theo thứ tự giảm dần về tỷ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách, rồi thậm chí là... theo mức gần với mức cao nhất trong 52 tuần rồi mua những cổ phiếu thuộc tốp đầu, bán những cổ phiếu tốp dưới (chiến lược phá cách kiểu này gây “sốc” cho không ít nhà nghiên cứu lẫn người sử dụng phân tích kỹ thuật vì mức cao nhất trong 52 tuần là một thông tin phổ biến, về mặt lý thuyết sẽ không gây ra phản ứng thái quá hay chậm phản ứng, mà còn có thể là mức cản tâm lý quan trọng khó vượt qua; nhưng điều trớ trêu là nó cho kết quả còn tốt hơn chiến lược thuận xu thế kiểu truyền thống tại thị trường Mỹ và Úc).

Một điều đáng lưu ý khi vận dụng chiến lược này vào Việt Nam là ở Việt Nam không cho bán khống, nên một nửa đóng góp vào thành công của chiến lược đến từ việc bán khống các cổ phiếu “đang thua” (các cổ phiếu này sẽ “tiếp tục thua”, và có tỷ suất sinh lợi âm, nên bán khống thì được một khoản lợi nhuận không nhỏ) sẽ không thể thực hiện được.

Nhưng một số nghiên cứu tại các thị trường mới nổi cho rằng, không cần nhất thiết bán khống cổ phiếu “đang thua”, mà chỉ cần mua vào các cổ phiếu “đang thắng” và nắm giữ chúng trong ngắn hạn (các nghiên cứu chỉ ra rằng khoảng thời gian từ 3 tuần đến tối đa 3 tháng là đem lại tỷ suất sinh lợi cao nhất cho chiến lược thuận xu thế), thì cũng có tỷ suất lợi nhuận cao rồi.

Như thế, có thể thiết kế một chiến lược thuận xu thế “kiểu Việt Nam” là sắp xếp các cổ phiếu theo thứ tự giảm dần về lợi nhuận trong quá khứ, rồi mua các cổ phiếu có lợi nhuận cao nhất trong quá khứ.

Nhưng liệu điều này có thể đem lại tỷ suất cao hay không? Ý kiến riêng của người viết là rất có thể tỷ suất sinh lợi sẽ cao, vì chúng ta có thể đã từng quan sát thấy nhiều giai đoạn mà các cổ phiếu Việt Nam tăng giá vùn vụt từ tháng này qua tháng khác, và các cổ phiếu tăng giá nhiều thì cứ “duy trì phong độ” cho một thời gian không ngắn.

Điều cuối cùng cần lưu ý là: so với các thị trường đã được nghiên cứu, Việt Nam có sự khác biệt đáng kể về chi phí giao dịch, tính thanh khoản, và tác động của nhà đầu tư nước ngoài tới thị trường.

Do đó, muốn biết chiến lược này hữu dụng tới mức nào đòi hỏi các nhà đầu tư, tổ chức nghiên cứu, các công ty chứng khoán tiến hành kiểm tra (back-test) lại chiến lược này, với những điều chỉnh cần thiết cho các khoản chi phí giao dịch, ảnh hưởng của tính thanh khoản, chia cổ tức và phát hành mới trước khi đem ứng dụng nó.

Điều đáng tiếc là trong khi rất nhiều thị trường (gồm cả Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc ở gần ta) đều đã có nghiên cứu công bố về chiến lược này, thì ở Việt Nam dường như vẫn chưa có một kết quả nào được công bố chính thức.

* Tìm hướng đi riêng

Chiến lược thuận xu thế (momentum strategy) chỉ là một trong số các chiến lược để tận dụng tính bất hoàn hảo của thị trường, chúng ta còn có thể có nhiều chiến lược khác như chiến lược nghịch xu thế dài hạn (contrarian strategy), chiến lược kinh doanh khi có chia cổ tức/phát hành cổ phiếu mới, chiến lược dựa vào tỷ số bất thường (ratio anomalies)...

Chúng ta có thể kết hợp quy tắc của nhiều chiến lược khác nhau để tạo ra một bộ chiến lược và quy tắc giao dịch tốt nhất cho bản thân mình, giống như trong phân tích kỹ thuật, người ta tìm cách tạo ra các hệ thống giao dịch (trading system) riêng từ kết hợp các quy tắc giao dịch căn bản.


Ông Dominic Scriven - Giám đốc Quỹ Dragon Capital: "Thị trường chứng khoán Việt Nam không có gì đáng lo ngại"

Đã gần nửa tháng 9, liệu thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam có thay đổi gì lạc quan hơn trong những tháng tới? Sự quan tâm của các nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài đối với TTCK Việt Nam như thế nào... Thanh Niên đã có cuộc trao đổi với ông Dominic Scriven, Giám đốc Quỹ Dragon Capital - một NĐT nước ngoài lão luyện, có mặt sớm nhất tại thị trường Việt Nam - về vấn đề này.

* Nhận định của ông về TTCK Việt Nam hiện nay như thế nào?

- TTCK Việt Nam từ đầu năm 2007 đến nay giống như cùng kỳ năm 2006. Những tháng đầu năm tăng trưởng mạnh, tháng 4 bắt đầu xu hướng đi xuống và kéo dài đến tháng 8, 9. Xu hướng này một phần có yếu tố thị trường đúng nghĩa của nó vì ở nhiều nước trên thế giới, tình hình cũng tương tự theo chu kỳ đó. Đầu năm là thời điểm mọi người nhìn vào năm mới với những nhận xét mới, góc nhìn mới trên cơ sở các thông tin mới. Nói chung là một cái nhìn lạc quan về sự tăng trưởng của nền kinh tế và các công ty. Điều này đã tạo nên sự sôi động cho TTCK.

Nhưng bước sang tháng 4, 5 là mùa hè, hơn nữa thông tin mới của các công ty cũng chưa nhiều. Ví dụ một dự án được công bố và khởi động từ đầu năm thì cũng phải đợi đến cuối năm mới có kết quả. Trong tiếng Anh, có một câu ngạn ngữ "Bán trong tháng 5 và đi nghỉ", vì những NĐT có ngồi trong văn phòng thời gian này cũng không có nhiều việc để làm. TTCK Việt Nam còn có một yếu tố riêng rất Việt Nam. Đó là yếu tố mua bán theo tâm lý và việc các công ty đã bung ra quá nhiều số lượng "giấy" (phát hành thêm cổ phiếu).

Hơn nữa, các công ty Việt Nam lại tranh nhau đưa ra số lượng "giấy" trên thị trường cùng lúc trong khi không lường được hết sức mua trên thị trường. Điều đó tạo nên sức bán tăng cao hơn sức mua. Dường như các công ty niêm yết và cả NĐT Việt Nam đều đang thử thách xem khả năng của mình đến mức độ nào.

* Ông dự đoán thế nào về TTCK Việt Nam trong thời gian tới?

- Câu này thật khó trả lời. Cuối năm thông thường là thời điểm người ta nghĩ đến việc tổng kết năm, mức chia cổ tức như thế nào... và bắt đầu nghĩ đến một năm mới. Do đó thị trường sẽ có nhích lên một tí. Ở Việt Nam cũng có xu hướng này nhưng có một số điểm cần được lưu ý. Đó là các công ty phải tính toán lại việc tăng vốn vì điều này ảnh hưởng đến sức mua trên thị trường, đồng nghĩa với việc ảnh hưởng đến chỉ số P/E (hệ số giá trên thu nhập của một cổ phiếu) của công ty.

Ví dụ P/E của công ty hiện nay là 20 lần và lợi nhuận tăng 50% nhưng công ty cũng tăng vốn 50% thì P/E đến cuối năm vẫn là 20. Lúc này việc tăng lợi nhuận không còn ý nghĩa gì nữa và giá trị cổ phiếu cũng không thay đổi. Kế đến là tiến độ cổ phần hóa các công ty nhà nước được thực hiện như thế nào? Theo tôi, Chính phủ Việt Nam không nên dừng cổ phần hóa các công ty lớn vì đây là chương trình lớn của Việt Nam, nó có ý nghĩa về chính trị, xã hội và quan trọng nhất là tái cấu trúc lại nền kinh tế.

Tuy nhiên người chủ sở hữu là Nhà nước phải tính toán kỹ và cân đối về mối quan hệ giữa số lượng "giấy" và giá trị "giấy" cũng như cân đối tầm nhìn ngắn hạn và dài hạn. Chúng ta không nên sợ cổ phần hóa kể cả khi thị trường xuống một phần nữa. Nguyên nhân chính khiến cho NĐT trong và ngoài nước quan tâm đầu tư vào TTCK là nhờ cổ phần hóa. Nếu giờ đây dừng lại thì yếu tố khiến họ quan tâm sẽ không còn nữa. Trở lại dự đoán về TTCK Việt Nam trong thời gian tới, nếu để 2 yếu tố này qua một bên thì thị trường không có gì đáng lo ngại vì mặt bằng giá trị không phải là thấp lắm nhưng cũng không cao lắm. Theo ước tính sang năm 2008, P/E trung bình của các công ty trên thị trường chỉ khoảng 20 lần vì nhiều công ty có tốc độ phát triển khá thuyết phục.

* Theo ông, sự quan tâm của các NĐT nước ngoài hiện nay đối với TTCK Việt Nam như thế nào?

- Những NĐT nước ngoài tham gia từ cuối năm 2006 nhưng phần lớn là từ đầu năm 2007 đến nay đều bị lỗ chứ không có lời. Điều này cũng giống như một số NĐT trong nước. Có thể những NĐT nước ngoài đó đã mất đi sự quan tâm đến TTCK Việt Nam. Bên cạnh đó, sự khủng khoảng về tình hình tài chính tín dụng đang lan rộng ở nhiều nước khiến có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí nhiều người cho rằng đó là sự khủng hoảng hệ thống và phải mất một thời gian dài mới khắc phục được. Nếu nghe như vậy, không một NĐT nào muốn bỏ tiền ra để nhận thêm rủi ro. Điều đó tất yếu sẽ ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn ở tất cả các thị trường, trong đó có TTCK Việt Nam. Tuy nhiên, thời điểm hiện nay vẫn có nhiều NĐT nước ngoài cho rằng thà ở Việt Nam còn hơn có mặt ở Mỹ.

* Chiến lược đầu tư của Dragon Capital hiện nay có gì thay đổi? Ông có lời khuyên gì dành cho NĐT cá nhân trong nước?

- Chúng tôi vẫn không thay đổi trong chiến lược đầu tư của mình. Về cơ bản, Dragon Capital vẫn dựa vào chiến lược từ trước đến nay là đầu tư dài hạn, đầu tư vào sự phát triển, tìm kiếm những công ty có chiến lược phát triển lâu dài, đội ngũ quản lý có chất lượng. Ngoài ra, gần đây nhất chúng tôi có bổ sung thêm một tiêu chí là tìm kiếm những công ty nào tập trung vào việc làm gia tăng thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) hơn là gia tăng vốn điều lệ và tổng lợi nhuận như đã nói về chỉ số PE ở trên.

Tôi không có lời khuyên nào dành cho bất kỳ ai, nhưng có 3 điều cần lưu ý mà chúng tôi vẫn đang áp dụng. Thứ nhất là phải xác định được các hoạt động của công ty có khả năng kéo dài một cách đáng tin cậy hay không? Vì gần đây có nhiều công ty mở rộng hoạt động sang những lĩnh vực không thuộc truyền thống của mình. Điều này không sai nhưng phải nghiên cứu kỹ, xem khả năng thành công ở lĩnh vực đó như thế nào cũng như mức độ rủi ro như thế nào? Thứ hai là NĐT nên tập trung vào tốc độ phát triển EPS. Đó chính là điều kiện để tạo ra giá trị doanh nghiệp, tạo nên lợi nhuận cho NĐT. Thứ ba là những công ty nào chú ý đến việc làm gia tăng mức cổ tức và trả cổ tức bằng tiền mặt thì đáng để xem xét. Ngoài ra, NĐT cũng nên xem xét về chiến lược quản trị của công ty, trách nhiệm của người lãnh đạo cũng như mức độ công khai về tình hình hoạt động của công ty như thế nào...

* Xin cảm ơn ông.


Nhiều lý do để mua cổ phiếu ngay hôm nay

Vài năm gần đây, quý IV thường là giai đoạn TTCK có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong một năm khi mà các công ty niêm yết (CTNY) cho thấy thành quả một năm kinh doanh thành công.

Thống kê trong 3 năm gần nhất, tốc độ tăng trưởng của VN-Index trong quý IV lần lượt là 21,3%, 20,6% và 43,46%. Riêng năm 2007, hiện VN-Index đang ở mức tương đương đầu năm trong khi năm nay, hầu hết CTNY dự kiến tăng trưởng 20 - 30%. Như vậy, ngay trong trường hợp thị trường không thật sự thuận lợi, nhiều khả năng nhà đầu tư sẽ tìm kiếm được mức lợi nhuận ít nhất 20 - 30% từ việc các CTNY có sự cải thiện trong kinh doanh. Năm nay, chu kỳ điều chỉnh giữa năm của thị trường diễn ra sớm hơn mọi năm khoảng 1 tháng (giữa tháng 3 thay vì giữa tháng 4), nên khả năng hồi phục cuối năm cũng có thể bắt đầu sớm hơn (thường bắt đầu từ giữa tháng 10).

Mỗi giai đoạn điều chỉnh dài thường được tiếp nối bởi một giai đoạn tăng trưởng vững chắc. Trong lịch sử của TTCK Việt Nam, nếu năm 2002 - 2004 được xem giai đoạn điều chỉnh cho những ngày bốc đồng ban đầu thì 2 năm sau đó là hai năm nhảy vọt bất ngờ và mạnh mẽ. 5 tháng qua, TTCK chịu sự điều chỉnh khắc nghiệt và đã thanh lọc về nhiều mặt như giá so sánh giữa các chứng khoán, thành phần nhà đầu tư, luồn tiền đi ra và lượng hàng hóa đi vào… Tuy sự điều chỉnh có thể chưa kết thúc, nhưng các chỉ tiêu giao dịch gần đây cho thấy, thị trường hiện tương đối vững: VN-Index khó rớt sâu dưới 900 điểm, không có tình trạng tháo chạy với mọi giá, giá trị giao dịch đạt cao… Ngoài ra, giai đoạn điều chỉnh lần này của thị trường kéo dài hơn thông lệ (thường chỉ 1 - 2 tháng) và theo nguyên tắc nén của lò xo thì càng bị ép lâu, thị trường càng có khả năng bật mạnh hơn.

So với việc đầu tư trực tiếp (trực tiếp lập DN và kinh doanh), hình thức đầu tư gián tiếp thông qua TTCK ngày càng chứng minh được tính vượt trội đối với việc tập trung nguồn lực của xã hội để tài trợ cho DN. Nghĩa là đối với đa số người dân, việc đầu tư vào DN niêm yết là dễ dàng và có cơ hội thành công cao hơn đối với việc họ tự lập DN để kinh doanh. Việc đầu tư vào vàng hay ngoại tệ trong năm 2007 đến nay chưa cho thấy hiệu quả, trong khi tham gia thị trường bất động sản hiện nay không còn đơn thuần là mua một vài nền đất để chờ bán khi giá lên; thậm chí nhiều DN bất động sản cũng mê đầu tư vào tài chính hơn là dự án bất động sản. Xét trên nhiều khía cạnh, TTCK vẫn hứa hẹn cơ hội rõ ràng hơn các hình thức đầu tư khác.

TTCK Việt Nam vẫn là lựa chọn ưu tiên của cả thế giới. Trong những năm gần đây, Việt Nam được đánh giá cao về thành quả cải cách kinh tế, chính sách kêu gọi đầu tư, thị trường hấp dẫn, chính trị ổn định. Trên thực tế, Việt Nam hiện là lựa chọn của các tổ chức đầu tư lớn nhất thế giới mặc dù cơ hội sẵn sàng, nhất là cơ hội mua cổ phiếu niêm yết, chưa thực sự đủ cho các tổ chức này. Cũng từ đầu năm 2006 đến nay, TTCK Trung Quốc có sự tăng trưởng vượt bậc đã khuyến khích một số tổ chức đang có mặt ở Việt Nam hướng sự quan tâm qua Trung Quốc, tuy nhiên chính các tổ chức này cũng thừa nhận họ không có ý định rút ra khỏi Việt Nam. Gần đây nhất, những dự án đầu tư hàng tỷ USD liên tục phá kỷ lục về số vốn lớn chưa từng có tại Việt Nam cho thấy, Việt Nam thực sự là tâm điểm của dòng vốn ĐTNN. Nhà đầu tư Việt Nam đang ở trên lãnh thổ Việt Nam, vùng đất hứa của các tổ chức đầu tư toàn cầu, tại sao không mạnh dạn nắm lấy cơ hội?

IPO doanh nghiệp lớn cần gỡ rối

Các đợt IPO doanh nghiệp lớn chưa thể thực hiện được không chỉ xuất phát ở việc Chính phủ chủ động điều tiết lộ trình để tránh tăng cung ồ ạt ra TTCK mà ngay quá trình thực hiện các thủ tục cổ phần hóa (CPH) tại các doanh nghiệp cũng vướng. Khả năng “về đích” trong năm 2007 với nhiều tổng công ty dường như khó khả thi.

Xác định giá trị doanh nghiệp “mắc”

Tổng công ty Bia rượu nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) đã đệ trình Ban CPH phương án xác định giá trị doanh nghiệp. Theo đó, giá trị quyền sử dụng đất vào khoảng 1.500 tỷ đồng, trong đó khu đất văn phòng Công ty tại đường Hai Bà Trưng (TP. HCM) ước khoảng 800 tỷ đồng, giá trị thương hiệu khoảng 500 tỷ đồng, tính tổng giá trị tài sản của Sabeco đạt 6.800 tỷ đồng, trong đó tập trung khá nhiều cho những dự án nhà máy bia mới hoặc đang đấu thầu mua sắm máy móc chuẩn bị đi vào sản xuất. Dù lãnh đạo Sabeco tuyên bố, doanh nghiệp muốn hoàn thành nhanh thủ tục CPH, nhất là khâu xác định giá trị doanh nghiệp đang được Ban CPH xem xét, sau đó sẽ đưa ra bán đấu giá cổ phần ngay, song thực tế lại đang có nhiều vướng mắc.

Theo bà Trịnh Thị Tuyết Minh, Phó tổng giám đốc tài chính Sabeco, doanh nghiệp mắc nhất ở khâu xác định giá đất. Trước khi có Nghị định 109/CP, Sabeco đã tiến hành xác định giá đất và trình UBND TP. HCM song không được chấp thuận.

Doanh nghiệp phải thuê cơ quan thẩm định giá đất tiến hành đánh giá lại nhưng hồ sơ vẫn chưa hoàn thiện. Cụ thể, muốn xác định giá đất, doanh nghiệp cần có quy hoạch đất đai, muốn xin quy hoạch phải có phương án sử dụng đất, hiệu quả sử dụng đất, rồi đến cả những thông số như nhà cao bao nhiêu tầng, xây dựng văn phòng hay khách sạn… Tuy nhiên, với những doanh nghiệp như Sabeco, khi giao đất, mục đích sử dụng được ghi chung chung là phục vụ sản xuất, kinh doanh, bản thân doanh nghiệp cũng chưa có kế hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng những khu đất hiện hữu.

Để có thể xác định giá trị quyền sử dụng đất, Sabeco đành vận dụng một cách “sáng tạo” nhằm hoàn thiện hồ sơ. “Chúng tôi tạm tính giá trị quyền sử dụng đất là 1.500 tỷ đồng song không dám chắc, liệu Ban CPH có chấp thuận hay không”, bà Minh cho hay.

Tổng công ty Bia rượu nước giải khát Hà Nội (Habeco) cũng đã hoàn tất sơ sơ quá trình định giá doanh nghiệp nhưng lại mắc ở khâu chi phí tư vấn CPH. Theo phê duyệt của Bộ Công thương, chi phí thuê tư vấn chỉ được hơn 100 triệu đồng trong tổng số 800 triệu đồng cả quá trình CPH nhưng đơn vị tư vấn cho Habeco lại “đòi” tới 400 triệu đồng. Mắc mớ này khiến doanh nghiệp chưa thể có báo cáo xác định giá trị doanh nghiệp.

Một đại gia khác là MobiFone thì chắc chắn phải dời IPO sang năm 2008 bởi tháng 8 vừa qua mới “gút” được danh sách 6 nhà thầu quốc tế tham gia đấu thầu tư vấn CPH. Dự kiến sớm cũng phải tháng 10 này mới chọn được nhà tư vấn và ít nhất 2-3 tháng sau, tổ chức tư vấn mới có thể xây dựng xong đề án CPH, xác định giá trị doanh nghiệp. “Sớm nhất cũng phải đầu năm 2008, MobiFone mới có thể tiến hành IPO, dự kiến VNPT vẫn nắm cổ phần chi phối và những đối tác cũ trong liên doanh như Comvik (Thụy Điển) có thể trở thành nhà đầu tư chiến lược”, một thành viên HĐQT VNPT cho biết.

IPO ở đâu?

Ngay cả Ngân hàng Ngoại thương (VCB) tuy đã khá rõ lộ trình CPH là tháng 10 tới có thể công bố đối tác chiến lược, song thời điểm thực hiện bán cổ phần cho công chúng vẫn để ngỏ. Các ngân hàng thương mại quốc doanh khác như BIDV, Incombank, MHB cũng khó thực hiện IPO trong năm nay. Với các tổng công ty lớn trực thuộc Bộ Công thương thì bản thân Bộ cũng thừa nhận ít có khả năng “về đích” như kế hoạch. Thị trường tỏ ra sốt ruột trước thông tin về các đợt IPO lớn vắng bóng nhưng cơ quan quản lý dường như rất “đủng đỉnh”. Đơn cử như Thông tư hướng dẫn Nghị định 109/CP đang được nhiều doanh nghiệp lớn chờ đợi để bổ sung lại hồ sơ song đã hơn 2 tháng kể từ khi Nghị định ra đời, Bộ Tài chính vẫn chưa có Thông tư.

Nguồn tiền chờ đầu tư vào chứng khoán của các quỹ trong và ngoài nước rất lớn, nếu VCB và một số DN lớn khác kịp tiến hành IPO trong năm 2007 thì các quỹ đầu tư vẫn có thể mua vào, thổi thêm lửa cho thị trường đang nguội lạnh. Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến lo ngại về việc giá cổ phiếu đại gia không đúng như mong đợi, có thể kéo thị trường đi xuống và tạo ra cú điều chỉnh với những cổ phiếu ngân hàng khác, tương tự như trường hợp Bảo Việt trước đây.

Và ở những thời điểm nhạy cảm như vậy, sự phối hợp giữa UBCKNN và các bộ, ngành để nắm rõ tiến trình CPH các doanh nghiệp lớn để đưa ra thời gian biểu IPO một cách hợp lý là quan trọng hơn bao giờ hết giúp thị trường tránh trường hợp lúc thì tăng trưởng quá nóng, lúc lại quá lạnh gây thiệt hại cho nhà đầu tư.

Vay tiền mua chứng khoán OTC: Điêu đứng!

Thị trường OTC hiện chưa có dấu hiệu “tan băng”, ngược lại còn sụt giảm, nhất là đối với cổ phiếu của những đơn vị quy mô nhỏ, giá tăng quá cao trước đó. Đơn cử như cổ phiếu của nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ (ABBANK, OCB, Southern Bank, Navibank… ) đã giảm trên 60% so với đầu năm 2007. Áp lực trả nợ vay ngân hàng đang đè nặng tâm lý nhà đầu tư. Thêm vào đó, chính sách siết chặt tiền tệ của NHNN đang hối thúc các ngân hàng thu hồi nợ làm nhiều nhà đầu tư phải điêu đứng, vì lỡ mua vào tại thời điểm thị trường tăng cao.

Ông Nguyễn Trung Hải, một nhà đầu tư tại TP.HCM đã lâm vào tình cảnh trên, vì lỡ bỏ tiền tỷ để “gom” cổ phiếu của một số doanh nghiệp ngành dịch vụ (ngân hàng, vận tải, bảo hiểm) vào đầu tháng 2/2007. Đến nay, giá cổ phiếu của các doanh nghiệp ông Hải bỏ tiền đầu tư đã giảm gần hai phần ba. Tuy nhiên, với hy vọng giá cổ phiếu sẽ khởi sắc trở lại vào dịp cuối năm, ông tiếp tục “đẩy” thêm vốn vào ngân hàng để giữ cổ phiếu đã đem thế chấp trước đó. Tính cả lãi và vốn bổ sung thêm khi giá cổ phiếu cầm cố tiếp tục sụt giảm so với thị giá xác định tại thời điểm vay, bình quân mỗi tháng ông phải trả cho ngân hàng khoảng 20 triệu đồng. Điều đáng nói là ngày đáo hạn các hợp đồng cầm cố của ông đang gần kề, nhưng không thể giải ngân, mặc dù giá chứng khoán đã giảm mạnh.

Thực tế, đến ngày 31/12 mới hết thời hạn quy định thu hồi nợ vay cầm cố và đảm bảo dư nợ đạt dưới 3% trên tổng dư nợ của ngân hàng. Thế nhưng, các nhà băng cho biết, họ không thể đợi đến những ngày cuối tháng 12 mới bắt đầu siết chặt nợ vay cầm cố, mà ngay tại thời điểm hiện nay đã bắt đầu thu dần. Các khoản nợ đến thời gian đáo hạn không thể tiếp tục tái cho vay. “Dư nợ của ngân hàng có tăng trong những tháng cuối năm, nhưng nếu không có sự chuẩn bị để điều chỉnh tỷ lệ nợ vay cầm cố, e rằng nhiều ngân hàng khó đáp ứng được yêu cầu của NHNN, vì dư nợ cầm cố của một số ngân hàng đã vượt mức 3% trước đó”, một cán bộ của Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) lý giải.

Chứng khoán niêm yết đang có dấu hiệu phục hồi, nhưng theo đánh giá của các chuyên gia trong ngành, sẽ khó kéo được giá cổ phiếu trên sàn OTC. Cổ phiếu trên thị trường OTC đang được thanh lọc bởi sự chuyên nghiệp dần của nhà đầu tư trong nước và sự lựa chọn kỹ càng hơn của nhà đầu tư nước ngoài. Có thể nói, thị trường OTC đang trong quá trình tái cấu trúc và những cổ phiếu quy mô nhỏ, tăng “nóng” trước đây sẽ nhanh chóng quay trở lại giá trị thực của nó.

Theo dự báo của các chuyên gia ngành chứng khoán, giá cổ phiếu trên sàn OTC sẽ khó có thể trở lại mức đỉnh như thời kỳ đầu năm 2007. Giá cổ phiếu sụt giảm, ngân hàng đẩy nhanh tiến trình thu hồi nợ sẽ là gánh nặng cho các nhà đầu tư, vì giao dịch trên sàn OTC vẫn ảm đạm.

Ông Nguyễn Anh Tuấn, một cán bộ của CTCK ACBS cho biết, nếu thị trường OTC tăng trưởng trở lại như thị trường niêm yết thì việc trả nợ ngân hàng của nhà đầu tư vay cầm cố đối với các hợp đồng sắp đáo hạn sẽ không có vấn đề gì. Ngược lại, nhà đầu tư bị thiệt hại là điều khó tránh khỏi. Theo dự báo của ông Tuấn, nhiều khả năng giá cổ phiếu giao dịch trên sàn OTC từ nay đến cuối năm chưa thể phục hồi khi các IPO lớn dự kiến sắp diễn ra. Dự kiến tháng 10 tới, Ngân hàng Vietcombank sẽ hoàn tất việc bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược và sau đó có thể tiến hành bán cổ phần ra công chúng. Đây chính là những loại hàng hóa chất lượng và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư.

Mặt khác, so với cổ phiếu trên sàn OTC, tính thanh khoản của cổ phiếu niêm yết trên sàn cao hơn, do được quản lý chặt chẽ. Một cán bộ cấp cao của Ngân hàng Sacombank cũng cho hay, chứng khoán Việt Nam đang được cơ cấu và tái phục hồi. Tính chuyên nghiệp của nhà đầu tư dần rõ nét hơn, do vậy thị trường sẽ nhanh chóng đào thải những nhà đầu tư chạy theo phong trào. Điều này cũng có nghĩa, sau khi các cuộc tái cấu trúc hoàn thành, những cổ phiếu quy mô nhỏ, ít tiềm năng sẽ khó có thể phục hồi và quay trở về mức giá như đầu năm 2007.

Nhà đầu tư kỳ vọng vào cổ phiếu ngành điện

Nhu cầu sử dụng điện tại Việt Nam tăng 17%/năm, Nhà nước khuyến khích các nhà đầu tư tham gia dự án điện

Hiện nay, trên thị trường chứng khoán khối lượng cổ phiếu (CP) của các doanh nghiệp (DN) điện lực lưu hành khá lớn.

Vì vậy, sự biến động về giá, khối lượng giao dịch CP của các DN này có ảnh hưởng lớn đến thị trường. Do nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng nên tiềm năng phát triển của các DN ngành điện còn rất lớn.

Nước ngoài thu siêu lợi nhuận

Trên thị trường chứng khoán hiện đã có nhiều DN ngành điện niêm yết CP như: Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại (PPC), Công ty Cổ phần Điện lực Khánh Hòa (KHP), Công ty Cổ phần Thủy điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh (VHS)... Trong đó, VHS tham gia thị trường chứng khoán sớm nhất (lên sàn Hà Nội vào tháng 7-2006). Nhưng phải đợi đến khi chuyển vào niêm yết tại sàn TPHCM thì VHS mới tạo ra ấn tượng trên thị trường. Do có khối lượng niêm yết khá lớn (125 triệu CP) nên hầu như phiên nào VHS cũng lọt vào “top 5” về lượng giao dịch. Ngày đầu tham chiếu VSH có giá 35.500 đồng/CP, nhưng nửa tháng sau xuống còn 27.000 đồng/CP. Khi nhà đầu tư nước ngoài tăng cường mua vào thì giá VSH mới phục hồi và đi lên. Sau hơn một năm giao dịch trên sàn, vào thời điểm thị trường sôi động giá VSH lên đến 86.000 đồng/CP.

Còn PPC có khối lượng niêm yết trên 326 triệu CP. Là một DN lớn, CP có mức thanh khoản cao, hoạt động kinh doanh khá hiệu quả, được giới đầu tư nước ngoài ưa chuộng nên hằng ngày PPC được giao dịch với khối lượng lớn. Một chuyên gia môi giới Công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương (IBS), cho biết trước đây khối nhà đầu tư nước ngoài đã mua được 12 triệu CP của PPC với giá 24.000 đồng đến 26.000 đồng. Khi thị trường sôi động giá PPC lên đến 100.000 đồng (còn hiện tại là 60.000 đồng), do đó các nhà đầu tư nước ngoài đã thu siêu lợi nhuận khi đầu tư vào PPC. Còn cổ phiếu KHP cũng giành được sự quan tâm lớn của các nhà đầu tư...

Sẽ ổn định lâu dài

Mặc dù CP các công ty điện chưa có những cú đột biến trên thị trường chứng khoán, nhưng giới đầu tư biết nhìn xa trông rộng vẫn kỳ vọng vào những công ty thuộc lĩnh vực này. Dù rằng thị trường còn ế ẩm nhưng trong vòng 3 tuần gần đây, cổ phiếu VSH tăng giá trở lại và đóng cửa ở mức 51.000 đồng/CP vào phiên giao dịch cuối tuần qua. Nguyên nhân là VSH đang đầu tư thêm dự án Nhà máy Thủy điện Thượng Kon tum. Tuy phải đến 2013 thì nhà máy này mới đi vào hoạt động nhưng ngay từ bây giờ giới đầu tư đã quan tâm tăng mua vào. Còn trên sàn Hà Nội, trong 3 phiên cuối tuần qua CP của Công ty Thủy điện Thác Bà (TBC) khối lượng giao dịch đã tăng lên gấp 3 lần so với những ngày trước đó...

Do nhu cầu sử dụng điện tại Việt Nam đang tăng 17%/năm, Nhà nước lại đang khuyến khích nhà đầu tư tham gia vào các dự án điện. Lộ trình giá điện đã được Chính phủ phê duyệt là từ năm 2008 giá bán lẻ bình quân là 890 đồng/KWh, tăng khoảng 4,5% so với hiện hành. Từ năm 2010, các công ty trực thuộc Tập đòan Điện lực Việt Nam sẽ tự xây dựng giá bán điện trên cơ sở khung giá của Chính phủ và tự hạch toán chi phí. Vì vậy có thể lúc đó sự năng động của các DN ngành điện sẽ cao hơn, quy mô sẽ được mở rộng thêm và hiệu quả kinh doanh sẽ tốt hơn. Những yếu tố đó khiến giới đầu tư tin tưởng DN trong ngành điện sẽ còn phát triển lâu dài và giá CP điện lực sẽ ổn định trong nhiều năm tới.

Thị trường chứng khoán VN lên xuống theo tin đồn

Nhật báo tài chính hàng đầu thế giới The Wall Street Journal số ra ngày 8/9 có bài viết về thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam của phóng viên James Hookway với những góc nhìn khách quan và sắc sảo trong giai đoạn tăng giảm thất thường hiện nay.

Sự điều chỉnh thất thường của sàn chứng khoán Việt Nam cho thấy đây là một trong những thị trường không ổn định nhất thế giới trong vài năm qua. Năm 2006, TTCK tăng 144%. Đây chính là lý do khiến Đặng Dũng, 45 tuổi, đã bỏ nghề buôn bán xe máy cách đây vài năm để hàng ngày bám sàn chứng khoán và anh trở thành một trong hàng ngàn nhà đầu tư nhỏ đang “chơi” chứng khoán ở đây.

Tuy nhiên, mọi sự sốt sắng bắt đầu đảo lộn thậm chí với Dũng. Như nhiều thị trường đang nổi khác, chứng khoán Việt Nam thiên về khuynh hướng bị điều chỉnh một cách lộn xộn phần lớn dựa vào tin đồn thất thiệt. “Có nhiều người chỉ săn một số loại chứng khoán. Giờ đây khó có thể dự đoán được thị trường” - Dũng than phiền.

Sau khi nhảy vọt vào năm 2006, chỉ số VN - Index tụt dốc 30% chỉ riêng tháng 4/2007, một phần vì tin đồn rằng Chính phủ sẽ hạn chế đầu tư vào chứng khoán. Nhưng điều này không đúng và thị trường lại hồi phục.

Sau đó vào tháng 8, sự lo lắng về sự tín nhiệm của nước ngoài châm ngòi cho một đợt bán tháo cổ phiếu. Vào ngày 7/9, chỉ số VN - Index đạt 934,13 điểm, sụt giảm 26% so với mức kỷ lục 1174,22 điểm vào ngày 12/3/2007.

Cùng với sự không ổn định này, nhiều Cty Việt Nam thường xuyên coi nhẹ quy định công khai tài chính và các luật lệ thị trường ít có hiệu lực. “Tôi trông chờ chính phủ ban hành các quy định nghiêm khắc hơn” – Anh Dũng tâm sự.

Ông Vũ Bằng, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước nói: “Các Cty Việt Nam có một số thói quen xấu”. Ông Vũ Bằng đã “đánh dấu” hầu hết các vi phạm phổ biến - ít nhất đây là điều mà đội ngũ cán bộ chỉ 15 người của ông có thể làm. Nhiều Cty không thèm bổ nhiệm ban giám đốc độc lập mặc dù đó là yêu cầu bắt buộc. Số khác phớt lờ việc báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước về những gì mà các giám đốc và quan chức khác kiếm được.

Với khoản tiền phạt chỉ 4.000 USD cho một lần vi phạm, ông Vũ Bằng cho rằng các Cty Việt Nam dễ dàng phớt lờ các quy định công khai tài chính. Ông Vũ Bằng đang tìm sự ủng hộ của chính phủ để nâng khoản tiền phạt cho mỗi lần vi phạm.

Bộ Tài chính cũng đang khuyến khích một số Cty lớn nhất Việt Nam niêm yết chứng khoán ở các thị trường nước ngoài như Singapore. Điều này yêu cầu các Cty phải cải thiện hơn nữa việc công khai thông tin của họ.

Cty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) là một trong những doanh nghiệp Việt Nam đang hi vọng sẽ tiên phong trong việc niêm yết tại thị trường nước ngoài và mong chờ chứng khoán của họ sẽ có mặt ở thị trường Singapore vào khoảng năm 2008.

Ông Nguyễn Duy Hưng, Chủ tịch - Tổng Giám đốc SSI, sáng lập Cty vào năm 2000 với số vốn 400.000 USD. Ngày nay giá trị vốn hóa thị trường của SSI vào khoảng 1 tỷ USD.

Mặc dù đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam ngày càng tăng, nhưng khoảng một nửa số cổ phiếu của các Cty niêm yết trên thị trường không do nhà nước kiểm soát vẫn được mua bán bởi các nhà đầu tư cá nhân trong nước. Sự khao khát của họ đã đẩy VN - Index tăng 10 lần trong 7 năm và tăng gấp đôi trong 12 tháng qua.

Số Cty Việt Nam niêm yết “nhảy” từ 2 lên 50 khi sàn chứng khoán được mở năm 2000. Đến cuối năm 2006, các Cty niêm yết trên sàn TPHCM có tổng giá trị vốn hóa thị trường là 13,5 tỷ USD. Mặc dù còn nhỏ so với 191 tỷ USD của TTCK Philippines và 197 tỷ USD của Thái Lan, nhưng ví dụ trên cho thấy cơ hội phát triển.

Cũng vì thế, TTCK Việt Nam tiếp tục thu hút các nhà đầu tư bám sàn hàng ngày. Ước tính chỉ riêng Hà Nội có khoảng 50.000 nhà đầu tư như vậy và con số có thể cao hơn tại TPHCM.

Một số mua bán chứng khoán qua tài khoản trên mạng Internet. Số khác tại Hà Nội lại tham gia vào thị trường không chính thức (OTC), nơi các nhà đầu tư mua và bán chứng nhận cổ phiếu của Cty chưa niêm yết từ các quán cà phê bên đường phố.

Theo các nhà môi giới chứng khoán Việt Nam, cổ phiếu của khoảng 2.400 Cty thường có quy mô nhỏ và vừa được mua bán theo kiểu này.

Nhà đầu tư nước ngoài gom VFMVF1

Kết thúc tuần giao dịch từ 4 đến 7/9, cùng với sự phục hồi đáng kể của chỉ số VN-Index (tăng 25,76 điểm so với phiên giao dịch cuối tuần trước), một động thái khác đáng chú ý là các nhà đầu tư nước ngoài đã mạnh tay mua vào chứng chỉ Quỹ Đầu tư Chứng khoán Việt Nam (VFMVF1).

Trong 4 phiên giao dịch của tuần này, nhà đầu tư nước ngoài đã mua vào 790.000 chứng chỉ VFMVF1, với giá trị gần 24 tỷ đồng, trong khi chỉ bán ra 18.400 đơn vị, đạt trị giá hơn nửa tỷ đồng.

Hiện tại, nhà đầu tư nước ngoài đã nắm giữ hơn 48 triệu chứng chỉ VFMVF1, tức là khoảng hơn 48% số lượng chứng chỉ quỹ niêm yết, trong khi tỷ lệ tối đa mà họ được nắm giữ đối với chứng chỉ quỹ này là 49%.

"Trong tổng số 49 triệu cổ phiếu VFMVF1 được phép bán cho nhà đầu tư nước ngoài, hiện chỉ còn hơn 800.000 cổ phiếu dành cho họ", ông Nguyễn Trung Kiên, chuyên gia phân tích của Công ty Cổ phần Chứng khoán Việt Quốc, cho biết.

"Giá của cổ phiếu này hiện xuống thấp nên đã kích thích nhà đầu tư ngoại mua vào", ông Trần Quốc Triệu, Phó trưởng phòng môi giới nước ngoài thuộc Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI), giải thích.

Kết thúc phiên giao dịch cuối tuần này, giá đóng cửa của VFMVF1 ở mức 30.100 đồng so với mức giá thực của cổ phiếu này là 35.588 đồng.

Theo Phó Tổng Giám đốc Công ty Chứng khoán Bảo Việt Phạm Quang Huy, việc đầu tư mua VFMVF1 là một kênh đầu tư gián tiếp vào các loại cổ phiếu đã hết tỷ lệ sở hữu dành cho nhà đầu tư ngoại vì đây là quỹ chuyên đầu tư vốn vào thị trường chứng khoán. Mua VFMVF1 cũng giúp nhà đầu tư không mất nhiều thời gian nghiên cứu cổ phiếu vì bản thân quỹ này đã là một màng lọc.

Chuyên gia phân tích chứng khoán Nguyễn Trung Kiên của Công ty Cổ phần Chứng khoán Việt Quốc nhận xét do giá VFMVF1 biến động gần như sát với sự trồi sụt của chỉ số VN-Index nên động thái mua cổ phiếu này của nhà đầu tư nước ngoài cho thấy niềm tin của họ vào thị trường chứng khoán Việt Nam.

Vosco sắp bán đấu giá hơn 50 triệu cổ phần

Công ty vận tải biển Việt Nam (Vosco) sẽ tổ chức bán đấu giá hơn 50 triệu cổ phần mệnh giá 10.000 đồng, với giá khởi điểm là 15.000 đồng/cổ phần, tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội vào giữa tháng này.

Vosco, có trụ sở tại Hải Phòng, hiện có vốn điều lệ 1.400 tỷ đồng, trong đó vốn nhà nước chiếm 60%; cán bộ, công nhân viên chiếm 2,08%; cổ đông chiến lược chiếm 2,07% và cổ đông bên ngoài chiếm 35,85% tổng số vốn.

Vosco là doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh vận tải biển hàng đầu trong nước. Công ty thực hiện các dịch vụ, đại lý và môi giới vận tải biển; xuất, nhập khẩu; đại lý cung ứng thiết bị, phụ tùng, vật tư tàu biển và kinh doanh dịch vụ vận tải đa phương thức.

Công ty hiện có đội tàu vận tải biển đa dạng gồm 25 chiếc, trong đó có nhiều tàu chuyên dụng và tàu chở côngtennơ. Dự kiến trong những năm tới Vosco sẽ tiếp tục trang bị thêm 2-4 tàu vận tải mỗi năm, đưa năng suất vận tải bình quân đạt 16,7 tấn/DWT vào năm 2010.

Công ty chứng khoán Nhật Bản mở văn phòng tại Hà Nội

Ngày 6/9, Ủy ban chứng khoán Nhà nước đã cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động cho văn phòng đại diện của công ty Daiwa Securities SMBC hiện có trụ sở chính ở Tôkyô (Nhật Bản) tại Hà Nội.

Văn phòng đại diện của công ty tại Hà Nội được phép thực hiện chức năng văn phòng liên lạc và nghiên cứu thị trường; xúc tiến xây dựng các dự án hợp tác trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, văn phòng còn có chức năng thúc đẩy, giám sát thực hiện các hợp đồng thoả thuận đã ký kết giữa Daiwa Securities SMBC với các tổ chức kinh tế của Việt Nam; thúc đẩy, giám sát thực hiện các dự án do Daiwa Securities SMBC tài trợ tại Việt Nam.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp sôi động

Nhiều chuyên gia tài chính bày tỏ lạc quan về sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp và dự báo hình thức huy động vốn này sẽ diễn biến sôi động trong thời gian tới.

Theo ông Trương Hùng Long, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính-Ngân hàng (Bộ Tài chính), “thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang dần hội đủ những điều kiện để vào đà tăng tốc”. Ông Long cũng cho rằng, với những chính sách thuận lợi như hiện nay, việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp chắc chắn không chỉ tập trung ở những tập đoàn lớn.

Cùng chung nhận định trên, ông Phạm Phan Dũng, Vụ trưởng Vụ Tài chính-Ngân hàng, khi trả lời phỏng vấn TTXVN hồi đầu năm, cũng đã khẳng định các doanh nghiệp Việt Nam đang có cơ hội rất rộng mở để huy động vốn ở thị trường trong nước và quốc tế thông qua hình thức phát hành trái phiếu.

Theo Bộ Tài chính, đến thời điểm này, đã có khung pháp lý cơ bản cho việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng. Trong cả Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và Nghị định 52/CP đều có những quy định khá cởi mở nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát hành trái phiếu để huy động vốn. Hiện Bộ Tài chính cũng đang soạn thảo một nghị định mới về việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu hoạt động từ năm 1994, song phải đến năm 2006, khi Chính phủ ban hành Nghị định 52/CP cho phép doanh nghiệp phát hành trái phiếu theo hình thức riêng lẻ, thị trường mới thực sự phát triển. Theo đó, các chủ thể phát hành trái phiếu không chỉ là các doanh nghiệp Nhà nước như trước đây, mà còn có các công ty TNHH, công ty cổ phần và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Riêng năm 2006, các doanh nghiệp trong nước đã huy động được trên 8.000 tỷ đồng bằng hình thức phát hành trái phiếu. Trong đó, nhiều doanh nghiệp phát hành lượng lớn trái phiếu như Tổng Công ty Điện lực Việt Nam 5.000 tỷ đồng, Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam 800 tỷ đồng và Tổng Công ty Sông Đà 260 tỷ đồng.

Xu hướng phát hành trái phiếu doanh nghiệp đang tiếp tục gia tăng trong năm nay, với tổng giá trị phát hành 7 tháng đầu năm lên đến gần 7.000 tỷ đồng.

Phát hành trái phiếu không chỉ giúp doanh nghiệp chủ động vốn khi thực hiện các dự án đầu tư lớn, tăng quy mô hoạt động mà còn góp phần hạn chế sự phục thuộc quá mức vào việc cấp vốn của Nhà nước qua kênh tín dụng.

Tuy nhiên, theo đại diện của Citibank tại hội thảo về phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam diễn ra hồi giữa tháng 8, các nhà đầu tư nước ngoài đang tỏ ra khá dè dặt đối với trái phiếu doanh nghiệp, mà nguyên nhân chủ yếu là do độ tin cậy của phần lớn doanh nghiệp đối với nhà đầu tư chưa cao.

Để việc phát hành trái phiếu đạt hiệu quả, ông Phạm Phan Dũng cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh và đảm bảo minh bạch hóa báo cáo tài chính để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư.

Ông Hisatsugu Furukawa, chuyên gia tư vấn của tổ chức JICA (Nhật Bản), cũng bày tỏ đồng tình với ý kiến trên của ông Dũng và cho rằng việc công khai, minh bạch tình hình tài chính sẽ làm cho nhà đầu tư tin tưởng hơn vào hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Để hỗ trợ doanh nghiệp phát hành trái phiếu, trong khuôn khổ các hoạt động hợp tác của ASEAN, Bộ Tài chính đã phối hợp với Ban Thư ký ASEAN, Quỹ hỗ trợ kỹ thuật tài chính Nhật Bản-ASEAN soạn thảo Sổ tay trái phiếu doanh nghiệp. Dự kiến cuốn sổ này sẽ được ban hành vào quý 4 tới nhằm cung cấp các thông tin cần thiết cho doanh nghiệp khi phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế.

Ngoài ra, việc hình thành và phát triển các tổ chức cung cấp dịch vụ cho thị trường trái phiếu như tổ chức định mức tín nhiệm, định giá trái phiếu cũng đã được tính đến.

Qua mô hình CANSLIM: Thấy gì từ các DN thuỷ sản?

Mùa thuỷ sản, trong khi không khí tại các khu nuôi trồng và xuất khẩu thuỷ sản trở nên tấp nập, thì cổ phiếu của các công ty thuộc ngành này trên sàn được dự báo cũng sẽ "ấm" dần lên.

Phiên giao dịch ngày 5.9, sàn HCM chứng kiến một "lính mới" chào sàn ngoạn mục: CP của CTCP XNK thuỷ sản Cửu Long - An Giang tăng 7.000đ so với giá tham chiếu. Quý III, quý IV hàng năm, các DN thuỷ sản lại bước vào giai đoạn bận rộn với hàng loạt hợp đồng xuất khẩu (XK) lớn.

Để góp một góc nhìn khác về phân tích DN, người viết sẽ sử dụng những tiêu chí trong mô hình CANSLIM để đánh giá một số DN ngành thuỷ sản. Đây là phương pháp lựa chọn CP theo các tiêu chí do William J. O'NeilM, người được coi là "nhà phù thuỷ" của TTCK Hoa Kỳ đưa ra.

Thu nhập trên mỗi CP hiện tại (C) và lợi nhuận sau thuế và lãi vay (A): Nhìn vào các chỉ tiêu tài chính, đặc biệt là các chỉ tiêu về lợi nhuận trên mỗi CP (C - Current Earning Per Share) và lợi nhuận sau thuế và lãi vay đều có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ...

Quý II/2007, hầu hết các DN thuỷ sản đều công bố kết quả lợi nhuận tăng trưởng cao và vượt mức so với kế hoạch năm. CP ACL mới lên sàn cũng được các NĐT khá quan tâm do tốc độ tăng trưởng vốn điều lệ và lợi nhuận tốt so với các DN cùng ngành.

Các chỉ tiêu khác như ROE, ROA, đòn bẩy tài chính đều được cải thiện rõ rệt trong năm 2006, đạt mức cao về hiệu quả sử dụng vốn, tài sản và mức độ an toàn của các khoản nợ.

Sản phẩm mới (N-New Products, Industrial News). Mặc dù phải đương đầu với một loạt các vụ kiện chống bán phá giá nhưng những năm qua, XK thuỷ sản luôn đạt mức tăng trưởng đều đặn hàng năm 18,4%.

Năm 2007, các DN ngành thuỷ sản đều thực hiện tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, thực hiện cải tiến chất lượng sản phẩm và mẫu mã sản phẩm cũng như liên tục tạo ra các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

Tỉ trọng sản phẩm có giá trị và hàm lượng công nghệ cao trong chế biến tăng lên trên 40%, nhiều sản phẩm mới ra đời có chất lượng cao.

Bước đầu, nhiều DN thủy sản đã thực hiện đăng ký và quảng bá thương hiệu với các sản phẩm truyền thống và sản phẩm mới như: Tôm, cá tra, cá ba sa, cá ngừ...

Một tín hiệu đáng mừng cho các DN thuỷ sản là theo Cục Quản lý cạnh tranh, hàng xuất khẩu của VN từ giờ đến cuối năm sẽ không phải đối mặt với vụ kiện chống bán phá giá nào, do đó các cổ đông có thể yên tâm về tính ổn định ngành.

Cung - cầu của CP (S-Supply and Demand). Theo dõi diễn biến giao dịch các phiên trong tháng 8, do ảnh hưởng của tâm lý chung thị trường, giá và khối lượng giao dịch của các CP đều giảm so với thời điểm sôi động mấy tháng đầu năm.

Tuy nhiên, những phiên giao dịch gần đây đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu thể hiện cán cân cung - cầu đang nghiêng về phía cầu do nhiều NĐT dự đoán mức 883 điểm đã là đáy của thị trường và xuất hiện nhiều nhân tố hỗ trợ. Sự phục hồi khối lượng giao dịch của AGF trong tháng 8 và những phiên đầu tháng 9 được coi lực đẩy tích cực cho sự tăng trưởng của CP này trong thời gian sắp tới.

Vai trò của CP trên thị trường (L- leader/ laggard). Một số CP đầu ngành như AGF, MPC cũng là những CP được đánh giá cao trên thị trường, thuộc "top trên", tuy không phải là những CP dẫn dắt thị trường, nhưng cũng có khối lượng giao dịch lớn.

Sự quan tâm của các định chế tài chính lớn đến CP (I-Institutional Sponsorship). Các CP ngành thuỷ sản nhận được nhiều sự quan tâm của NĐTNN. AGF - vốn là một DN thuỷ sản làm ăn ổn định và có sự tăng trưởng nên từ lâu là đích ngắm của khối này và hiện room đã đầy (49%).

TS4 lại là một hiện tượng của CP thuỷ sản, mặc dù quy mô nhỏ cả về vốn, doanh thu và lợi nhuận so với các DN trong ngành, nhưng sau khi công bố kết quả kinh doanh tăng trưởng ấn tượng trong quý I/2007, lập tức NĐTNN đẩy mạnh mua vào, đẩy room cho CP này lên 41%.

Còn một loạt các CP khác như SJ1 (11,83%), MPC (10,57%) room còn khá rộng rãi, kết hợp với kết quả kinh doanh tốt sẽ là những lựa chọn trong tương lai. Đợt đấu giá cổ phần CTCP Nam Việt ngày 21.6, NĐTNN cũng mua vào 30% trong tổng số 6 triệu CP phát hành thêm.

Xu hướng thị trường (M-Market Direction). TTCK đang bước vào giai đoạn đi ngang, có thể sẽ làm nhiều NĐT bối rối khi lựa chọn CP cả trong ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên có thể lạc quan rằng thị trường sẽ lấy lại mức tăng trưởng mạnh mẽ như trong giai đoạn cuối năm 2006, đầu năm 2007 do sức bật còn rất lớn.

Ngành thủy sản cũng đang đứng trước những thách thức lớn hậu WTO, nhất là về năng lực cạnh tranh khi một loạt các vụ kiện về chất lượng và thương hiệu đang gây cản trở với các DNXK thuỷ sản.

Nhưng sự lớn mạnh của các Cty trong ngành là không thể phủ nhận và sức tăng trưởng tiềm tàng của nó chính là điểm nhấn mà các NĐTdài hạn quan tâm và thời điểm 2 quý cuối năm bao giờ cũng là thời điểm giao dịch sôi động của các CP ngành thuỷ sản.


Quyền nhận thêm và mua thêm CP mới: Lợi thế hay rủi ro?

Thời gian gần đây thị trường liên tiếp có thêm hàng, các DN niêm yết đang liên tiếp có chính sách tăng vốn bằng hình thức trả cổ tức bằng CP, trả tiền thưởng bằng CP hay phát hành thêm CP cho cổ đông hiện hữu, đối tác chiến lược với giá ưu đãi.

TTCK vẫn chưa thoát khỏi xu thế giảm, cung NĐT trong nước khá yếu và một nguyên nhân góp phần làm TTCK mất điểm là hiệu ứng "pha loãng" CP của các Cty niêm yết.

Bản chất của việc tăng vốn

Trong quá trình hoạt động vì nhiều lý do mà Cty cổ phần quyết định tăng vốn bằng cách phát hành thêm CP mới. Tuy nhiên, không phải bất kỳ việc phát hành CP mới nào cũng làm tăng vốn chủ sở hữu của Cty, nhưng mọi việc phát hành CP mới trên thị trường đều có tác động đến giá CP của Cty.

Có thể phân biệt hai loại tăng vốn bằng phát hành CP mới của Cty cổ phần: Phát hành CP mới không thu tiền và phát hành CP mới có thu tiền.

Phát hành CP mới không thu tiền, thường xảy ra một trong các trường hợp sau: Phát hành CP mới do chuyển một phần lợi nhuận để lại hoặc phần dự trữ vào vốn góp. Việc này được thực hiện thông qua phương thức trả tiền thưởng bằng CP phân chia cho cổ đông hiện hữu theo tỉ lệ số CP mà NĐT hiện có, phát hành CP mới do trả cổ tức bằng CP.

Theo cách này, vốn chủ sở hữu của Cty không bị ảnh hưởng mà chỉ làm thay đổi cơ cấu vốn và tăng số lượng CP đang lưu hành của Cty.

Phát hành CP mới có thu tiền: Trong quá trình hoạt động, Cty cần thêm vốn để đầu tư phục vụ chiến lược kinh doanh dài hạn, Cty có thể lựa chọn phương thức huy động vốn bằng cách phát hành thêm CP mới.

Việc phát hành này thông thường dành quyền mua cho cổ đông chiến lược, cán bộ công nhân viên, cho cổ đông hiện hữu với giá bán ưu đãi thấp hơp giá thị trường, có thể bằng mệnh giá nhưng với một tỉ lệ thích hợp.

Trường hợp này, vốn chủ sở hữu Cty thay đổi khá lớn. Một trường hợp nữa là chào bán CP ra công chúng hay thông qua đấu giá, các NĐT mới và cổ động hiện hữu có quyền như nhau.

NĐT không có sự lựa chọn

Quan sát thị trường thời gian gần đây, NĐT có thể dễ dàng nhận thấy những CP nào sắp chốt ngày phát sinh các quyền (ngày giao dịch không hưởng quyền) đều đối mặt với tình trạng giá CP sẵn sàng giảm trước ngày chốt.

Vậy tại sao khi NĐT sắp nhận được những ưu đãi như nhận thêm CP hoặc mua với giá thấp hơn giá thị trường thì giá CP lại giảm?

Lợi thế khi hưởng quyền nhận thêm hay mua thêm CP mới phụ thuộc rất nhiều vào tính hình cung cầu của thị trường tại thời điểm phát sinh quyền. Nếu trong thời gian thị trường TTCK tăng giá, cầu lớn hơn cung, tức là người mua có cơ hội mua mà người bán cũng dễ dàng bán bớt số CP hiện đang nắm giữ thì khả năng giá CP sẽ tăng.

Ngược lại, nếu cung vượt cầu hay NĐT không còn quan tâm nhiều thì việc tăng số lượng CP càng làm mất cân đối cung cầu, hậu quả là giá CP giảm. Trường hợp này đang hiện diện trên TTCK.

Hiện nay, nếu NĐT quyết định thực hiện quyền của mình phải đối mặt với việc giá CK sẽ giảm do cầu thị trường hiện đang khá yếu cộng với cung tăng. Không phải cổ đông hiện hữu nào cũng muốn nắm giữ đợi đến ngày giao dịch không hưởng quyền, đó là chưa kể đến phải mất vài tháng CP mới về để có thể giao dịch được.

Còn trong trường hợp cổ đông từ chối quyền thì giá CP đang sở hữu sẽ bị giảm đi một lượng nhất định sau ngày giao dịch không hưởng quyền, đồng thời bị giảm tỉ trọng trong tổng số các CP đã phát hành và cổ đông sẽ bị giảm vị thế, tiếng nói và quyền biểu quyết trong Cty.

Rất nhiều NĐT hiện đang nắm giữ CP mua được cách đây 6-7 tháng với mức giá cao lâm vào tình trạng dở khóc dở cười: Bán đi để tránh phải thực hiện quyền cũng lỗ mà mua vào cũng lỗ.

NĐT dài hạn thường quan tâm tới nhiều về thông tin của đợt tăng vốn nhiều hơn là tình hình cung cầu ở thời điểm phát sinh quyền. Tuy nhiên, vấn đề đáng ngại là các Cty đua nhau phát hành, thu tiền từ cổ đông nhưng mục đích sử dụng vốn, hiệu quả đến đâu lại không được giải thích, cam kết và chứng minh một cách rành mạch.

Các Cty tăng vốn có nhiều lý do khác nhau chủ yếu là huy động vốn cho các dự án đầu tư dài hạn, nhưng cũng không ít DN huy động vốn chỉ vì mục đích đảm bảo số vốn điều lệ tối thiểu 80 tỉ đồng, đủ điều kiện niêm yết tại sàn TP.HCM. Một số khác phát hành để thực hiện dự án nhưng không khả thi lại đem vốn đi đầu tư tài chính, bất động sản.

Với cuộc chạy đua "làm lớn" mình thông qua kênh tăng vốn, các Cty cần tính đến lợi ích lâu dài, hiệu quả sử dụng vốn. Nếu tăng vốn cổ đông lên quá hiệu quả kinh doanh thì áp lực về cổ tức sẽ tăng, thu nhập trên mỗi CP sẽ giảm.

NĐT trước khi đưa ra quyết định đầu tư, đặc biệt là quyết định mua thêm do phát hành tăng vốn, cần phải nghiên cứu rõ mục đích huy động vốn của Cty và tính khả thi của dự án mà Cty có ý định đầu tư, tránh sa vào "cái bẫy nợ nần" trong khi thị trường thì ảm đạm, gánh nặng trả lãi vay lớn và mất đi cơ hội đầu tư khác do "chết" vốn.

Nhiều cổ đông lớn “quên” công bố thông tin

Gần đây xảy ra nhiều trường hợp cổ đông lớn, quan trọng (VIP) của các công ty cổ phần (CTCP) đã âm thầm bán chứng khoán (CK) mà không thông báo theo qui định đã ít nhiều ảnh hưởng đến lòng tin của các nhà đầu tư (NĐT), trong đó có NĐT nhỏ...

Cuối tháng 8/2007, ông Phạm Đình Lâm - thành viên hội đồng quản trị CTCP Nhựa xây dựng Đồng Nai - đã phải gửi văn bản cho Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) để giải trình, xin... “nhận khuyết điểm và cam kết không tái phạm”. Trước đó, ông Lâm đã giao dịch cổ phiếu nhưng lại “quên” công bố thông tin theo qui định.

Dồn dập... “quên”

Đây chỉ là một trong bốn vụ vi phạm công bố thông tin giao dịch nội bộ diễn ra trong tháng tám, được HOSE phát hiện và yêu cầu các “đương sự” giải trình. Cũng như ông Lâm, cả ba trường hợp còn lại là ông Vũ Xuân Dũng, “người nhà” của ông Vũ Xuân Cường - Phó Giám đốc CTCP Nhiệt điện Phả Lại, bà Đặng Thị Xuân Hương - kế toán trưởng CTCP Vận tải xăng dầu đường thủy Petrolimex, và bà Trần Thị Thu Hồng - kiểm soát viên CTCP Hàng hải Sài Gòn, cũng đều “nhận khuyết điểm và cam kết không tái phạm”!

Các vụ “quên” này không phải bây giờ mới có. Thế nhưng gần đây, trong bối cảnh giá CK có chiều hướng giảm, số vụ vi phạm lại nhiều hơn, bình quân 4-5 trường hợp/tháng. Trong đó không ít trường hợp là các VIP ở những công ty “thâm niên” trên sàn, chưa kể nhiều VIP trong cùng một công ty niêm yết vi phạm.

Cổ đông nhỏ “ức”!

Anh Đức Hùng - một NĐT tại sàn ACBS - khá bức xúc khi cho rằng việc các VIP âm thầm bán ra CK mà “quên” công bố thông tin là không lành mạnh. Do đó, không thể chỉ “nhắc nhở” hay yêu cầu “đương sự” cam kết “không tái phạm” rồi bỏ qua.

Theo anh Hùng, tất cả thông tin liên quan đến công ty niêm yết đều có thể gây ảnh hưởng đến giá CK, trong đó có thông tin mua hay bán CK của các VIP. Đây là những người đầu tiên nắm được các thông tin quan trọng liên quan đến hoạt động và kết quả kinh doanh của đơn vị.

Một chuyên gia cho rằng nhiều NĐT nhìn vào động thái của các VIP để quyết định mua hay bán CK. “NĐT bán cổ phiếu FPT trong tháng bảy vừa qua, sau khi một số VIP của đơn vị này đăng ký bán cổ phiếu FPT cho thấy sức nặng thông tin giao dịch của các VIP...” - vị chuyên gia này nói. Theo anh Huỳnh Đức - nhà đầu tư tại sàn SSI, phần lớn các VIP bán ra CK trong thời điểm nhạy cảm, do đó các NĐT mua ở thời điểm này có thể bị thiệt hại.

Nặng mới phạt

Giữa tháng 8/2007, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (SSC) đã ra quyết định buộc hàng loạt VIP phải nộp phạt lên tới 10 triệu đồng với lỗi không công bố thông tin giao dịch nội bộ.

Trước đó, các VIP này cũng đã được HOSE nhắc nhở. Ông Lê Nhị Năng - Phó Tổng giám đốc HOSE - cho biết thẩm quyền xử phạt các trường hợp này thuộc SSC. Các trường hợp vi phạm đều được HOSE báo cáo lên SSC sau khi có văn bản nhắc nhở các “đương sự”, đồng thời yêu cầu các “đương sự” giải trình và cam kết không tái phạm.

Một quan chức SSC cũng cho biết tất cả trường hợp vi phạm trên TTCK, trong đó có chuyện vi phạm công bố thông tin giao dịch nội bộ của các VIP đều được thanh tra của SSC kiểm tra và xử lý. Tùy theo mức độ vi phạm, thanh tra của SSC mới quyết định xử phạt bằng tiền hay nhắc nhở. Theo vị quan chức này, chỉ những trường hợp có dấu hiệu giao dịch nội gián hoặc cố tình không công bố thông tin mới bị phạt nặng. Các trường hợp còn lại có thể do không cố ý hoặc thiếu hiểu biết thì chỉ nhắc nhở.

Phải chuyên nghiệp hơn

Theo một số chuyên gia CK, không thể cho rằng vì không biết để giải thích cho những hành vi vi phạm vì có công ty có đến 2-3 VIP cùng vi phạm.

“Trong trường hợp vi phạm là “vô tình” hoặc do “thiếu hiểu biết” thì các công ty niêm yết cũng phải xem xét lại cơ chế công bố thông tin vì bộ phận này hoạt động không chuyên nghiệp”, ông Huỳnh Anh Tuấn - Công ty CK ACBS - nói. Vì theo qui định, bộ phận công bố thông tin phải thực hiện trách nhiệm phổ biến, giải thích rõ cho các đối tượng nằm trong diện bắt buộc công bố thông tin hiểu và tuân thủ nghĩa vụ này.

Thế nhưng, nhiều công ty niêm yết hiện nay giao cho chủ tịch hội đồng quản trị hoặc một người trong ban giám đốc giữ nhiệm vụ công bố thông tin. Trên thực tế thì không ít những vị này không nắm vững qui định về công bố thông tin hoặc nắm nhưng chưa “thuộc bài”. “Công bố thông tin để tăng tính minh bạch của thị trường, tạo niềm tin cho NĐT. Do vậy, các công ty niêm yết phải xem việc xây dựng bộ phận công bố thông tin một cách độc lập tương đối vừa là trách nhiệm vừa là quyền lợi...” - ông Tuấn nói.


Tổng Giám đốc tặng... nhân viên 6.580 quyền mua CP


Ngày 7/9/2007, CTCP Savimex ( mã chứng khoán SAV) đã thông báo Uỷ viên HĐQT kiêm TGĐ Lê Minh Trang quyết định tặng cho hai nhân viên SAV là Nguyễn Ngọc Thu và Lương Thị Phước Hạnh quyền mua 6.580 cổ phiếu SAV. Ngày dự kiến thực hiện giao dịch này sẽ là ngày thứ hai 11/09/2007.

Đây là lần đầu tiên một Tổng Giám đốc tặng cho nhân viên quyền mua cổ phiếu và đây cũng là vụ tặng, cho “đình đám” thứ 4 trong vòng 6 tháng qua tại sàn TP HCM.

Ngày 30/8 vừa qua, Sở GDCK TP HCM cho biết ông Lê Chí Hiếu là Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc công ty cổ phần Phát triển nhà Thủ Đức (mã chứng khoán: TDH) sẽ tặng 68.500 cổ phiếu (trong số 337.000 cổ phiếu mà ông này nắm giữ- PV) cho vợ là bà Phạm Thị Xuân Lan. Theo giá hiện nay thì số cổ phiếu này lên đến gần 12 tỷ đồng! Và đây cũng là vụ tặng vợ số cổ phiếu có giá trị lớn đầu tiên trên TTCK VN.

Trước đó một tháng, ông Lương Thanh Tùng hiện là thành viên Hội đồng quản trị Công ty cổ phần XNK Thủy sản Bến Tre (mã chứng khoán ABT) đã tặng chị vợ là bà Nguyễn Thu Hương 250.000 cổ phần ABT trị giá khoảng 25 tỷ đồng cổ phiếu và đây là vụ tặng cổ phiếu nhiều nhất tính cho đến nay. Theo ông Tùng thì ông tặng cho chị vợ để bà Hương có vốn kinh doanh và đi du học, hơn nữa muốn “trả ơn gia đình vợ đã giúp đỡ trong lúc ông khó khăn, thiếu vốn”.

Tuy nhiên vụ “ly hôn 1000 tỷ” của ông Lê Quang Tiến – Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Phó TGĐ FPT với việc ông Tiến buộc phải chuyển 1.854.815 cổ phần trong tổng số 3.709.630 cổ phần của FPT ông đang sở hữu cho vợ là bà Lê Thị Hồng Hải theo quyết định ly hôn của Tòa án nhân dân Quận Ba Đình (Hà Nội) vẫn là vụ chuyển nhượng “nổi tiếng” nhất từ trước đến nay và để lại cho cổ đông FPT không ít dư luận.

Theo LS Nguyễn Hưng Quang thì có nhiều quy định buộc các cổ đông VIP như trên phải giữ cổ phần trong một thời gian nhất định (thường là 3 năm) mới được chuyển nhượng. Nhưng nếu họ tặng cho thì thân nhân của họ có quyền bán mà không cần xin phép cơ quan quản lý và hoàn toàn hợp pháp, và “họ đã tìm cách vượt qua được giới hạn này”. Cho đến nay, chưa có quy định nào kiểm tra, kiểm soát việc trên nên tình hình “tặng, cho” ngày càng phát triển mạnh trong các tổ chức niêm yết, dù nhà đầu tư luôn đặt dấu hỏi.

Tin đấu giá cổ phần

* 4.028.600 cổ phần (CP) của Tổng công ty may Việt Tiến sẽ được bán đấu giá tại Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) vào ngày 28.9. Đây là loại CP phổ thông có mệnh giá 10.000 đồng/CP, giá bán khởi điểm 20.000 đồng/CP. Tổng công ty may Việt Tiến có vốn điều lệ 230 tỉ đồng, chuyên sản xuất kinh doanh quần áo các loại; Sản xuất và kinh doanh nguyên phụ liệu ngành may; Kinh doanh máy in,

photocopy, thiết bị máy tính; Đầu tư xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, kinh doanh kho bãi, nhà xưởng; Dịch vụ xuất nhập khẩu, giao nhận hàng hóa... Nhà đầu tư đăng ký tham gia từ ngày 10 – 20.9 và nộp lại phiếu tham dự đấu giá trước 15 giờ ngày 26.9.

* 2,8 triệu CP (mệnh giá 10.000 đồng/CP) của Công ty Kỹ nghệ gỗ Trường Thành cũng sẽ được bán đấu giá vào ngày 1.10 tại HOSE . Giá khởi điểm là 75.000 đồng/CP. Công ty Trường Thành có vốn điều lệ 150 tỉ đồng, chuyên sản xuất đồ mộc, ván trang trí nội thất; Mua bán gia công các sản phẩm mộc, máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu trong ngành chế biến gỗ; Mua bán gia công các sản phẩm nông, lâm, thủy sản... Nhà đầu tư đăng ký tham gia từ ngày 10 - 24.9 và nộp lại phiếu tham dự đấu giá trước 15 giờ ngày 28.9. Công ty sẽ tổ chức một buổi giới thiệu vào ngày 19.9.

* 500 tỉ đồng trái phiếu Đô thị TP.HCM sẽ được Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội tổ chức đấu thầu vào ngày 18.9. Trái phiếu gồm các kỳ hạn 5 năm, 10 năm và 15 năm (được phát hành ngày 20.9.2007). Đấu thầu dưới hình thức kết hợp cạnh tranh lãi suất và không cạnh tranh lãi suất (khối lượng trái phiếu đấu thầu không cạnh tranh lãi suất không vượt quá 30% tổng khối lượng trái phiếu gọi thầu). Thời hạn nộp phiếu dự thầu là trước 14 giờ ngày 18.9.

Công ty chứng khoán: Đầu tư vào công nghệ thông tin hay “nghỉ chơi”

Từ tháng 10, Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) sẽ bắt đầu chuyển màn hình nhập lệnh (DCTerm) về cho các công ty chứng khoán (CTCK) và tiến tới giao dịch trực tuyến từ tháng 3.2008. Để có thể thực hiện được điều đó thì ngay từ bây giờ, các CTCK cũng phải tính toán đến việc nâng cấp công nghệ thông tin của mình cho phù hợp, nếu không họ sẽ phải đứng ngoài cuộc chơi.

Sợ không kịp

Ông Trần Đắc Sinh - Tổng giám đốc HOSE - khẳng định sẽ tập trung mọi nguồn lực để thực hiện việc cải tiến và đưa vào ứng dụng công nghệ mới theo đúng kế hoạch đã công bố. Trong tháng 9, HOSE sẽ đưa ra các tiêu chuẩn để chọn lựa 1-2 CTCK để tiến hành thử nghiệm việc đưa màn hình DCTerm (màn hình nhập lệnh) về CTCK, sau đó sẽ triển khai rộng ra cho các CTCK thành viên. Cách làm này trước mắt sẽ giải quyết được việc thiếu chỗ ngồi tại HOSE hiện nay cho các CTCK mới đồng thời là bước chuẩn bị cho việc tiến tới giao dịch trực tuyến. Để kết nối được với hệ thống của HOSE khi giao dịch trực tuyến, các CTCK phải có cổng front-office mới phù hợp. Nếu không có cổng này, CTCK chỉ đứng ngoài cuộc chơi và tiếp tục giao dịch thủ công như hiện nay.

Trên thực tế, hạ tầng công nghệ thông tin của đa số các CTCK hiện nay không đồng bộ và còn nhiều yếu kém. Khoảng 40 CTCK đang sử dụng phần mềm của Công ty hệ thống thông tin FPT và theo đánh giá của nhiều công ty thì chương trình này vẫn chưa hoàn thiện. Ông Nguyễn Hồng Nam - Phó tổng giám đốc CTCK Sài Gòn (SSI) cho biết phần mềm của FPT đã được chỉnh sửa nhiều lần và có thể tiếp tục được chỉnh sửa cho phù hợp nhưng không thể mở rộng được những dịch vụ mới khi thị trường phát triển mạnh hơn. Do đó SSI đã đi mua phần mềm từ Thái Lan với giá lên đến khoảng 1 triệu USD. Một số CTCK khác như CTCK TP.HCM (HSC), CTCK Đại Việt... cũng đang đầu tư tương tự cho phần mềm mua từ Úc... Nhiều CTCK cho rằng phần mềm trong nước sẽ không đáp ứng được các yêu cầu mới khi HOSE tiến hành nâng cấp hệ thống giao dịch. Vì vậy bắt buộc họ phải đầu tư mới ngay từ bây giờ. Thế nhưng, Tổng giám đốc một CTCK tại TP.HCM cho rằng sẽ có nhiều CTCK không kịp chuẩn bị hạ tầng công nghệ kịp theo tiến độ của HOSE. Có lẽ cũng đã dự đoán trước được tình hình này nên HOSE sẽ tiếp tục duy trì song song việc giao dịch trực tuyến và giao dịch thông qua sàn như hiện nay.

Phần mềm nào phù hợp?

Điều băn khoăn nhất của các CTCK hiện nay là mua phần mềm như thế nào, nội hay ngoại để tích hợp được với hệ thống của Hose? Theo ông Nguyễn Hồng Nam, nước ngoài đã có kinh nghiệm về thị trường chứng khoán nên chương trình phần mềm của họ có nhiều dịch vụ mới mà trong tương lai Việt Nam cũng phải thực hiện.

Do đó việc đầu tư ngay từ bây giờ là nhìn về lâu dài. Thế nhưng, không phải bất kỳ một CTCK nào cũng sẵn sàng chi ra một số tiền lớn như vậy để đầu tư cho hệ thống công nghệ thông tin, đặc biệt là những CTCK mới ra đời, quy mô còn nhỏ hoặc lợi nhuận chưa nhiều. Trong khi đó, nếu đầu tư một phần mềm nội như của FPT chẳng hạn thì chỉ cần khoản chi phí khoảng 35.000 USD. Đó là chưa kể CTCK sẽ được hỗ trợ cho mượn máy chủ dùng tạm để phục vụ công tác cài đặt đào tạo và kiểm tra ứng dụng nhằm rút ngắn được thời gian triển khai hệ thống.

Hơn nữa, theo ông Dương Dũng Triều, Phó tổng giám đốc Công ty hệ thống thông tin FPT, việc chuyển màn hình DCTerm về CTCK không liên quan gì đến phần mềm đang sử dụng của các CTCK. Còn sau đó, khi Hose nâng cấp một hệ thống giao dịch mới theo chuẩn quốc tế thì phần mềm của FPT vẫn sẵn sàng đáp ứng được. “Hệ thống tiêu chuẩn này, tôi tin rằng, sẽ hỗ trợ một chuẩn quốc tế gọi là chuẩn FIX, cho phép hệ thống này giao tiếp được với phần mềm tại các CTCK. Phần mềm do FPT xây dựng đã có chức năng hỗ trợ chuẩn FIX này”, ông Triều nói. Dù khẳng định như thế, nhưng cũng theo ông Triều, hiện FPT đang cùng các đối tác để hoàn thiện các bước cuối cùng để đưa ra hệ thống hoàn thiện mới cho các CTCK với nhiều tính năng đáp ứng các nghiệp vụ mới phát sinh trong tương lai như danh mục đầu tư, ủy thác, future/option; đáp ứng yêu cầu về quản lý nội bộ của các CTCK; hỗ trợ các giao dịch qua internet, mobile; kết nối CTCK với ngân hàng... Thế nhưng, điều này lại cho thấy rằng phần mềm hiện tại của các CTCK sẽ không thể đáp ứng được các yêu cầu khi thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển hơn cũng như khi Hose nâng cấp hệ thống giao dịch của mình. Việc chọn lựa phần mềm nội hay ngoại là phụ thuộc vào điều kiện, chiến lược phát triển của từng CTCK.

Bên cạnh đó, các CTCK mong muốn Hose sẽ công khai tiêu chuẩn về hạ tầng công nghệ thông tin cũng như những thông số kỹ thuật chi tiết để họ có thể tự tính toán khoản đầu tư của mình.


Cổ phiếu ngành dược: Ưu thế và rủi ro

Kết thúc phiên giao dịch hôm qua ngày 6.9, cổ phiếu (CP) Dược Hậu Giang (DHG) đứng ở mức 388.000 đồng/CP. Đây là CP có giá cao đứng thứ 2 trên sàn chứng khoán TP.HCM hiện nay. 2 CP ngành dược còn lại là Domesco (DMC) và Imexpharm (IMP) cũng có giá lần lượt là 160.000 đồng/CP và 171.000 đồng/CP. Nhiều nhà đầu tư đang có nhận xét khá tốt về CP ngành dược trên thị trường hiện nay.

Ưu thế

Ngành dược đang được các chuyên gia kinh tế đánh giá là một trong những ngành có triển vọng phát triển khá tốt. Đặc biệt tại Việt Nam, Chính phủ vẫn có sự kiểm soát về giá thuốc cũng như hệ thống phân phối nên các công ty trong nước đang có nhiều lợi thế cạnh tranh. Theo Phòng phân tích của Công ty chứng khoán TP.HCM (HSC), ngành dược có tốc độ tăng trưởng cao, khoảng 18-20%/năm và lợi nhuận cũng đạt khá. Thử điểm qua mấy công ty dược đang được niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM sẽ thấy được điều đó. Dược Hậu Giang trong 6 tháng đầu năm 2007 đạt doanh thu thuần 554,3 tỉ đồng, tăng 44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lợi nhuận đạt 58,1 tỉ đồng, tăng 37%. Do đó, thu nhập trên mỗi CP (EPS) cả năm 2007 ước đạt 11.624 đồng.

Trong khi đó, Công ty y tế Domesco có doanh thu 6 tháng đầu năm nay là 391,5 tỉ đồng, tăng 24% và lợi nhuận đạt 25,5 tỉ đồng, tăng 22%. EPS ước tính cả năm 2007 của Domesco đạt 3.708 đồng. Tương tự, lợi nhuận của Imexpharm cũng tăng lên 24% so với cùng kỳ năm trước và EPS cả năm dự kiến đạt 6.264 đồng. Những công ty có CP đang lưu hành trên thị trường OTC như Vidipha, Dược Mekophar, OPC... cũng được nhà đầu tư đánh giá khá cao. Doanh thu của ngành dược trong giai đoạn 1995-2005 đã tăng gấp 6 lần nhưng cũng chỉ mới đáp ứng được 40% nhu cầu trong nước, số còn lại đều phải nhập khẩu. Do đó mục tiêu phát triển của ngành dược Việt Nam đến năm 2010 là sản xuất trong nước phải đáp ứng được 60% nhu cầu của thị trường và đạt mức tiêu thụ 12 - 15 USD/người (hiện tại khoảng 10 USD/người).

Cũng theo các chuyên viên phân tích của HSC, đây là một ngành sản xuất đặc biệt với sản phẩm đặc biệt, nhất là từ trước đến nay Việt Nam chưa cho phép các công ty nước ngoài được phân phối trực tiếp. Do đó, lợi thế lớn nhất của các công ty dược trong nước hiện nay là hệ thống phân phối rộng khắp và không bị cạnh tranh của các đối thủ nước ngoài; giá thành sản phẩm thấp và chiếm lĩnh phân khúc thị trường giá thuốc bình dân. Ông Trương Duy Khiêm - Trưởng phòng Môi giới Công ty chứng khoán ACBS - cũng cho rằng CP ngành dược khá tốt để nhà đầu tư có thể xem xét và quyết định đầu tư, nhất là những CP có giá dưới mức 200.000 đồng/CP là khá hợp lý.

Rủi ro

Theo phân tích của HSC, rủi ro có thể xảy đến cho ngành dược chính là những thay đổi về chính sách quản lý ngành, quản lý giá thuốc của Nhà nước. Bên cạnh đó là khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế về một số loại thuốc theo cam kết của WTO mà nhiều công ty vốn chưa thể đạt được... Các nhà sản xuất trong nước sẽ phải đối đầu trực tiếp với các đối thủ từ nhiều nơi trên thế giới luôn mạnh hơn về nhiều mặt như tài chính, chất lượng sản phẩm, chiến lược marketing... Từ ngày 1.1.2007, các hãng dược nước ngoài đã được phép lập chi nhánh tại Việt Nam; Từ ngày 1.1.2008, các công ty dược có vốn đầu tư nước ngoài dưới 51% được phép xuất nhập khẩu các sản phẩm dược và kể từ ngày 1.1.2009, các công ty dược có vốn đầu tư nước ngoài được phép kinh doanh dược phẩm tại Việt Nam...

Yếu điểm lớn nhất của các công ty dược trong nước là hầu hết chỉ sản xuất thuốc generic (những loại thuốc thông thường có giá thấp), không sản xuất được những loại thuốc đặc trị. Hơn nữa, nhiều cơ sở sản xuất thuốc trong nước chưa đạt được tiêu chuẩn thực hành quản lý tốt (GMP). Ước tính chỉ có khoảng 1/3 trong số gần 200 cơ sở sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP trong khi GMP là một trong những điều kiện để các công ty dược nước ngoài ký hợp đồng chuyển nhượng quyền tên thương mại sau khi Việt Nam là thành viên WTO. Vì vậy các chuyên gia cho rằng các công ty dược trong nước phải hướng vào sản xuất những sản phẩm đặc trị, có hàm lượng giá trị cao hơn. Điều này sẽ tạo nên uy tín, khẳng định thương hiệu và mang lại một lợi nhuận cao hơn cho bản thân công ty.

Tuy nhiên, ông Khiêm cũng cho rằng mức giá của DHG hiện nay thể hiện sự kỳ vọng của nhà đầu tư (NĐT) vào công ty này quá lớn. Điều này cũng có thể là một rủi ro. Do đó khi đầu tư, NĐT cũng nên suy nghĩ kỹ hơn và xác định cho rõ mục tiêu, chiến lược đầu tư của mình. Một chuyên gia chứng khoán nhận xét, nếu tính đầu tư lâu dài thì CP ngành dược đáng để cho NĐT xem xét và lựa chọn cho vào rổ CP của mình. Tuy nhiên nếu đi theo chiến lược đầu tư ngắn hạn thì những sự phân tích hay xem xét trên sẽ khó phù hợp và đôi khi khiến NĐT bị thua lỗ. "Vì vậy tất cả những phân tích của các công ty chứng khoán hay các tổ chức tài chính đưa ra đều chỉ mang tính tham khảo vì quyết định cuối cùng là do NĐT đưa ra", chuyên gia này nói.

Bản báo cáo mới của HSBC về TTCK Việt Nam: Thời điểm mua vào của nhà đầu tư

VN-Index có chiều hướng tăng mạnh sau khi Ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải (HSBC) công bố bản báo cáo mới về thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam vào cuối tháng 8.2007. Lần này thì các nhà đầu tư (NĐT) của Việt Nam không có phản ứng dữ dội như bản báo cáo trước. Điều gì đang xảy ra?

Kể từ sau ngày nghỉ lễ 2.9, đến bất kỳ một sàn chứng khoán nào, người ta có thể nghe thấy các NĐT xì xào nhau: "HSBC khuyên bây giờ nên vào mua đấy!", và rất nhiều NĐT đã làm theo HSBC thật. Khi VN-Index có xu hướng tăng mạnh, các NĐT đều vui và không có nhiều lời chỉ trích hoặc phản ứng về báo cáo của HSBC. Điều thú vị mà chúng tôi phát hiện từ việc la cà tại nhiều sàn chứng khoán và trao đổi với các chuyên gia về chứng khoán là chỉ có rất ít người được đọc trực tiếp bản báo cáo của HSBC (bản cuối tháng 8.2007) nhưng tất cả đều nhớ rất rõ và chính xác một câu: bây giờ là thời điểm để mua (time to buy).

Gần như có rất ít NĐT và cả chuyên gia chứng khoán đọc và ghi nhớ những khuyến cáo của HSBC khi đầu tư vào TTCK Việt Nam như tính thanh khoản thấp tại Sở Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh, chất lượng thông tin được công bố tồi, các công ty niêm yết thì quá chú trọng đến việc mở rộng hoạt động, phát hành thật nhiều cổ phiếu mà ít quan tâm đến kế hoạch sử dụng số vốn đó như thế nào... Nếu các NĐT thử đi hỏi hầu hết các nhân viên tư vấn và môi giới ở hầu hết các CTCK thì họ chỉ nhớ nhất câu "time to buy", kèm theo một số thông tin tích cực khác từ bản báo cáo này như giá cổ phiếu đã trở về mức hợp lý (back to the fair value)...

Một số NĐT cảm thấy hơi hoang mang vì hai tháng trước họ còn thấy các tổ chức nước ngoài như Merrill Lynch còn khuyên bán hết cổ phiếu ở Việt Nam mà sao bây giờ HSBC lại khuyên mua. HSBC và Merrill Lynch đều là những tên tuổi lớn của làng tài chính thế giới, vậy nên tin tổ chức nào ?

Tổng giám đốc một công ty quản lý quỹ lớn đang hoạt động tại Việt Nam nhận định: "Vấn đề là NĐT phải xem thời điểm đưa ra bản báo cáo là lúc nào. Trong các bản báo cáo trước đây, HSBC hay Merrill Lynch khuyến cáo NĐT nên thận trọng vì lúc đó VN-Index hơn 1.000 điểm thậm chí có lúc trên 1.100 điểm. Nhưng khi VN-Index xuống 900 điểm thậm chí dưới cả mức đó thì tình hình đã khác nên các đánh giá của HSBC khác đi là chuyện bình thường".

Nhận định về việc VN-Index tăng sau khi HSBC công bố báo cáo, ông này nói: "Vấn đề ở đây là họ đưa ra nhận định dựa trên những yếu tố mang tính nền tảng. Đối với không ít loại cổ phiếu trên TTCK thì khi VN-Index giảm tới 900 điểm là một cơ hội để đầu tư và không chỉ có HSBC nghĩ vậy. Bản thân chúng tôi cũng mua vào một số cổ phiếu khi VN-Index giảm xuống mức đó. Khi HSBC công bố nhận định đó thì có nhiều người khác sẽ làm theo và có thể làm chỉ số VN-Index tăng mạnh hơn thôi. Đây cũng là điều bình thường xảy ra ở tất cả các TTCK khác trên thế giới và các NĐT Việt Nam cần phải quen với điều đó".

Ông Phạm Quang Huy, Phó giám đốc Công ty chứng khoán (CTCK) Bảo Việt cũng có nhận xét: "Báo cáo của HSBC cũng như các tổ chức tài chính quốc tế khác là một căn cứ tốt để đưa ra các quyết định đầu tư. Bộ phận nghiên cứu của HSBC là một đơn vị độc lập và họ đưa ra các nhận định dựa vào các yếu tố mang tính bản chất. Vì thế, khi báo cáo này được công bố nó giống như một ngòi nổ cho những biến động trên thị trường". Tuy nhiên, ông Huy cũng khuyến cáo: "Kể cả khi HSBC khuyên nên mua vào thời điểm hiện nay thì các NĐT cũng nên cẩn trọng. Nếu đi mua cổ phiếu mà đã nghĩ ngay đến chuyện "đi ăn tiệc" thì không ổn".

Nhận định về cơ hội đầu tư sau khi HSBC công bố bản báo cáo mới, ông Lâm Đạo Thảo - Chủ tịch Hội đồng quản trị CTCK Phương Đông nói: "Nói là cơ hội để mua nhưng phải xem là mua cổ phiếu nào ở ngành nghề nào chứ không thể là mua lung tung được". Ông Lâm Đạo Thảo cũng nhận định: "Cơ hội mua vào là có nhưng bảo là cơ hội để đầu tư ngắn hạn thì không chắc đâu, đặc biệt là đối với những người không chuyên nghiệp". Vị này khuyến cáo các NĐT không chuyên không nên vay tiền đi mua cổ phiếu trong giai đoạn hiện nay.

Template Designed by Douglas Bowman - Updated to Beta by: Blogger Team
Modified for 3-Column Layout by Hoctro