6 thg 9, 2007

Bắt mạch thị trường

NĐT chứng khoán vĩ đại phố Wall, Jesse Livermore (1877-1940) đã từng nói: "Thị trường có thể thay đổi, công ty tham gia niêm yết trên thị trường cũng có thể thay đổi, nhưng bản chất NĐT thì nói chung rất ít thay đổi - họ là những NĐT cá nhân tham gia TTCK và mang tâm trạng của mình để giao dịch chứng khoán.

... Chính vì thế, nắm bắt tâm lí NĐT chính là cách bạn có thể tự tin tham gia mua bán cổ phiếu"...

Lịch sử đang lặp lại?

Ngày 4/9/2007, chỉ số Vn-Index tăng mạnh trở lại sau ngày nghỉ lễ 2/9, các tín hiệu thị trường cho thấy TTCK Việt Nam đang chuẩn bị cho đợt bứt phá mới sau thời gian giao dịch trầm lắng. Thị trường đã khởi sắc sau nhiều thông tin khả quan như: Sự đánh giá khả quan về thị trường của HSBC; Chính phủ bật đèn xanh và lên kế hoạch cổ phần hoá các doanh nghiệp lớn như Vietcombank; nền kinh tế vĩ mô ổn định và Chính phủ thực sự đang có những biện pháp hiệu quả ngăn chặn tăng chỉ số giá tiêu dùng. Tại sao thị trường đã khởi sắc đúng thời điểm tưởng được coi là tồi tệ nhất trong năm nay, lúc mà niềm tin của NĐT đang lung lay nhất? Nhìn lại TTCK Việt Nam vài năm qua có thể thấy, diễn biến thị trường bị ảnh hưởng rất lớn bởi tâm lí của hầu hết NĐT cá nhân đã hình thành nên những chu kỳ khá rõ ràng! Từ tháng 10/2005, sau một thời gian dài ngủ yên, thị trường đã có những bước tiến nhất định nhờ quy định tăng tỉ lệ sở hữu của NĐTNN từ 30 lên 49% và các thông tin tốt về triển vọng thị trường. Điều đó đã giúp cho chỉ số chứng khoán liên tục duy trì xu hướng tăng, Vn-Index đạt tăng từ ngưỡng gần 300 điểm vào cuối năm 2005 lên mức 612 điểm vào ngày 3/5/2006, Vn-Index đã mất hơn 30% giá trị và giảm xuống mức thấp nhất của năm 2006 là 399 điểm. Và đây cũng là đáy của thị trường bởi ngay lúc tâm trí bi quan nhất bao trùm thì các NĐT đã chứng kiến sự khởi sắc trở lại và giao dịch ổn định tại mức 500 điểm.

Tới tháng 11/2006, TTCK Việt Nam liên tục đón nhận những thông tin khả quan nhất, thời kì vàng của TTCK đã đến. Ngay cả những chuyên gia kinh tế kinh nghiệm nhất và các NĐT kì vọng nhất cũng không thể tưởng tượng nổi sự phát triển đột phá của thị trường. Ngày 12/3/2007, Vn-Index đạt mức cao nhất trong lịch sử 7 năm hoạt động: 1170,67 điểm và khi đó bắt đầu là thời điểm đi xuống của thị trường tới nay.

Bắt mạch thị trường?

Dễ nhận thấy, TTCK dần hình thành xu hướng biến động khá rõ nét. Điều gì đã làm nên chu kỳ này? Trước hết, đó là tâm lý đám đông của hầu hết các NĐT cá nhân trên TTCK, tiếp đó phải nói tới chu kỳ của nền kinh tế nói chung, chu kỳ tăng giá thường diễn ra những tháng đầu năm được coi là thời điểm tổng kết năm tài chính, và lên kế hoạch chia lợi nhuận cho cổ đông của các doanh nghiệp niêm yết. Ngược lại, chu kỳ giảm giá lại thường rơi vào các khoảng thời gian mà nền kinh tế nói chung đang ở chu kỳ tích luỹ, là thời điểm mà hầu hết công ty niêm yết tiến hành thu tiền của NĐT cho đợt phát hành cổ phiếu mới để tăng vốn...

Nắm bắt được những chu kỳ này của TTCK không chỉ giúp cho các tổ chức lớn trên thế giới mạnh tiếng nhận định về TTCK Việt Nam. Rõ ràng đó chỉ là những nhận định mang tính định hướng cho giao dịch ngắn hạn!

Đứng trên khía cạnh NĐT, có thể khẳng định về bản chất thị trường là rất tốt, các doanh nghiệp niêm yết đang duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Chính vì thế, bằng cách nắm bắt xu thế đó, chúng ta hoàn toàn có thể làm chủ được đồng tiền của mình một cách chủ động và tối ưu nhất.

Đứng trên khía cạnh quản lí thị trường và các công ty niêm yết, các doanh nghiệp nên tiến hành những đợt phát hành trải rộng, tránh tập trung nguồn cung và cũng là tránh thiệt hại cho ngân sách nhà nước và niềm tin của NĐT. Để không còn những đợt phát hành gây xôn xao dư luận như VF1, hay thất bại của Sudico, Vinare..., rồi phải trì hoãn lên xuống đợt IPO của Vietcombank, Vinaphone. Chính cách xử lý linh hoạt đó sẽ tạo nên một thị trường ổn định hơn.


"Đã đến thời điểm lập quỹ đầu tư mới"

Công ty Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Hà Nội (HFM) vừa tiếp tục công bố việc thành lập quỹ thành viên thứ hai mang tên Vietnam Tiger Fund – Quỹ đầu tư chứng khoán Con Hổ Việt Nam với quy mô 500 tỷ đồng, thời hạn hoạt động 5 năm.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn của chúng tôi dưới đây, ông Phan Anh - Tổng giám đốc Công ty Quản lý quỹ đầu tư Hà Nội cho rằng, việc lập quỹ đầu tư mới lúc này là để tận dụng những “cơ hội vàng” của thị trường.

Tại sao lại chọn thời điểm này để lập quỹ? Những thành viên góp vốn phải đáp ứng những điều kiện gì?

Theo tôi, việc HFM huy động vốn lập quỹ Vietnam Tiger Fund trong thời điểm hiện nay là rất phù hợp. Nền kinh tế Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng tốt và được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Hiện nay, theo nghiên cứu của chúng tôi, thị trường có nhiều cơ hội tốt để đầu tư, nhiều cổ phiếu có mức giá khá hợp lý để mua vào. Nhìn rộng hơn, thị trường chứng khoán Việt Nam tuy đã qua 7 năm hoạt động, nhưng vẫn đang trong giai đoạn phát triển ban đầu, nên cơ hội cho thị trường lớn mạnh hơn còn rất rộng. Do đó, HFM đã quyết định lập quỹ mới trong thời điểm này để tận dụng cơ hội thị trường.

Trong bối cảnh thị trường chứng khoán hiện nay, ông làm gì để có thể thuyết phục được các nhà đầu tư bỏ tiền vào lập quỹ?

Các thành viên sáng lập của Vietnam Tiger Fund chủ yếu là các tổ chức tài chính chuyên nghiệp, các tổng công ty, công ty lớn. Tôi cũng chia sẻ thêm rằng phần lớn các cổ đông của Hanoi Invesment Fund đều tiếp tục tham gia góp vốn vào Vietnam Tiger Fund với quy mô vốn góp lớn hơn.

Điều này cũng phần nào chứng tỏ sự tin tưởng của các thành viên góp vốn đối với chúng tôi. Chúng tôi sẽ nỗ lực hết sức cho sự thành công của Quỹ để đáp lại sự tin tưởng và ủng hộ của các nhà đầu tư

Tại sao thời gian hoạt động của Quỹ lại chỉ là 5 năm mà không phải là lâu hơn, thưa ông?

Thời gian hoạt động ban đầu của Quỹ là 5 năm và có thể thay đổi theo quyết định của Đại hội thành viên Quỹ tùy thuộc vào tình hình phát triển chung của thị trường cũng như tính hiệu quả của Quỹ trong những năm hoạt động sắp tới.

Điều đó có nghĩa Vietnam Tiger Fund hoàn toàn có thể đầu tư vào các dự án 6 năm, 7 năm hoặc dài hơn.

Mục tiêu đầu tư của Vietnam Tiger Fund là nhắm vào các công ty có tăng trưởng cao. Vậy những doanh nghiệp nào có thể đáp ứng được tiêu chí “tăng trưởng cao” của Vietnam Tiger Fund?

Mục tiêu của Vietnam Tiger Fund là đầu tư vào những doanh nghiệp đang hoặc có mục tiêu trở thành doanh nghiệp trong top dẫn đầu ngành, có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt tối thiểu 15%/năm.

Trong đó, quan trọng nhất là tăng trưởng về doanh thu và thị phần. Những ngành nghề mà HFM dự kiến đầu tư gồm tài chính, ngân hàng, chứng khoán, thực phẩm, hàng tiêu dùng, viễn thông, công nghệ thông tin, y tế, dầu khí, bất động sản... Chúng tôi dự kiến sẽ đầu tư vào mỗi doanh nghiệp từ 20 đến 100 tỷ đồng.

Khi đầu tư vào những doanh nghiệp này, vai trò của VTF sẽ được hiểu như thế nào?

Vietnam Tiger Fund có thể đầu tư như các nhà đầu tư tài chính thông thường hoặc với tư cách là một cổ đông chiến lược của doanh nghiệp. Ngoài việc đầu tư nguồn vốn, chúng tôi sẽ hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh nghiệp trong các hoạt động liên quan đến tài chính, huy động vốn tài trợ dự án sản xuất, kinh doanh, tái cấu trúc công ty... nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Đối với những doanh nghiệp chưa niêm yết, chúng tôi sẽ cùng với doanh nghiệp chuẩn bị tốt về nền tảng và xây dựng lộ trình giúp doanh nghiệp niêm yết thành công. Trên thực tế, việc này đã được áp dụng tại một số doanh nghiệp mà HFM đầu tư trong thời gian qua.

Đầu tư vào các doanh nghiệp tăng trưởng, có nghĩa là hiệu quả của VTF đặt ra là khá cao. Ông có thể tiết lộ mức tăng trưởng của quỹ hàng năm cũng như cổ tức dự kiến mà các thành viên được nhận là bao nhiêu?

Quỹ đặt mục tiêu tăng trưởng giá trị tài sản ròng (NAV) tối thiểu 20%/năm và cổ tức đạt tối thiểu 12%/năm. Trong đó, tăng trưởng NAV là mục tiêu quan trọng nhất.

Nhưng như thế không có nghĩa là không có rủi ro?

Lợi nhuận kỳ vọng cao hơn đồng nghĩa với việc rủi ro sẽ cao hơn. Tuy nhiên, song song với mục tiêu tăng trưởng, chúng tôi cũng đặt ra mục tiêu giảm thiểu rủi ro thông qua việc đa dạng hóa danh mục đầu tư và tuân thủ một số hạn chế đầu tư do Quỹ đề ra.

Bên cạnh đó, theo quy định của Luật chứng khoán, một quỹ thành viên không yêu cầu phải có ngân hàng giám sát. Nhưng để đảm bảo tính minh bạch và chuyên nghiệp, Vietnam Tiger Fund đã ký hợp đồng với một trong những ngân hàng quốc tế hàng đầu làm ngân hàng lưu ký và giám sát cho mọi hoạt động của Quỹ.

Khó khăn khi lập một quỹ đầu tư có quy mô 500 tỷ đồng vào lúc này là gì, thưa ông?

Theo các quy định hiện hành, việc huy động nguồn vốn trong nước hiện tại được quy định và kiểm soát khá chặt chẽ như các thành viên góp vốn không được sử dụng nguồn vốn ủy thác hay vốn ngân sách nhà nước để tham gia góp vốn đầu tư vào các quỹ... Do đó, để có thể huy động nguồn vốn của các doanh nghiệp trong nước hiện nay không phải dễ dàng.

Tuy nhiên, với uy tín và năng lực của HFM, Ngân hàng Quân Đội, Công ty Chứng khoán Thăng Long, cùng với sự ủng hộ nhiệt tình của các đối tác, các cơ quan quản lý Nhà nước, có thể nói chúng tôi đã thành công trong việc thành lập Vietnam Tiger Fund - quỹ Việt Nam đầu tiên trong năm 2007.

Kinh nghiệm nào mà ông thấy tâm đắc nhất sau một thời gian quản lý quỹ đầu tư Hà Nội và có thể áp dụng được vào đối với VTF? Nếu có thể, ông cho biết một vài kết quả của Quỹ đầu tư Hà Nội sau gần một năm thành lập?

Tôi cho rằng, đầu tư là một nghệ thuật chứ không phải là một khoa học. Con người luôn là nhân tố quan trọng nhất. Những doanh nghiệp nào có bộ máy quản trị điều hành tốt sẽ là nền tảng vững chắc cho sự thành công của doanh nghiệp đó.

Đối với Hanoi Investment Fund, có thể nói các cổ đông cũng khá hài lòng với kết quả của Quỹ sau gần 1 năm hoạt động. Quỹ đặt mục tiêu lợi nhuận trong năm 2007 là 100 tỷ đồng và chia cổ tức 30%.

Chúng tôi cũng đang tiến hành làm việc với cơ quản quản lý nhà nước để tiến hành chuyển đổi quỹ và tăng quy mô vốn, dự kiến đến cuối năm 2007 hoặc đầu 2008 sẽ hoàn thành.


Mở thêm sàn chứng khoán: Không phải muốn là được!

Vừa qua, lãnh đạo thành phố Cần Thơ đã kiến nghị Chính phủ cho phép lập sàn giao dịch chứng khoán như ở Hà Nội, Tp.HCM.

Tuy nhiên, theo một số chuyên gia tài chính, điều này khó thành hiện thực.

Tại cuộc hội thảo “Xây dựng thị trường vốn và đầu tư tài chính ở ĐBSCL” vừa tổ chức tại Cần Thơ, chuyện nên hay không nên thành lập sàn giao dịch chứng khoán tại Cần Thơ cũng được nhiều đại biểu thảo luận. Trước đó, lãnh đạo thành phố Cần Thơ cũng đã kiến nghị trực tiếp với Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng và Bộ Tài chính, xin được thành lập sàn giao dịch nhằm tăng cường khả năng thu hút vốn, tạo sự sôi động cho thị trường tài chính tại Cần Thơ cũng như cho một số tỉnh vùng ĐBSCL.

Thời gian gần đây tại Cần Thơ, nhiều đại lý giao dịch chứng khoán của một số công ty tài chính, ngân hàng tiếp tục ra đời, cộng thêm các đại lý đã hoạt động từ vài ba năm trước của Ngân hàng Ngoại thương, Công thương... khiến nhiều người kỳ vọng về sự ra đời của một sàn giao dịch chứng khoán trong nay mai.

Dân chơi chứng khoán ở vùng ĐBSCL cũng không ít, từ những người đang làm việc tại các doanh nghiệp cho đến cả những nông dân nuôi cá tra thuộc hàng “đại gia”...

Sự kiện ba công ty dược ở ĐBSCL có tổng vốn điều lệ 270 tỉ đồng, sau khi lên sàn đã nâng tổng vốn lên khoảng 5.000 tỉ đồng (tính đến cuối năm 2006) đã khiến nhiều người kỳ vọng sàn giao dịch chứng khoán sẽ là nơi giúp các doanh nghiệp thu hút vốn, đẩy mạnh đầu tư vào vùng đất này.

Tuy vậy, nhiều thông tin cho thấy hiện nay Ủy ban Chứng khoán Nhà nước không ủng hộ việc thành lập thêm sàn giao dịch chứng khoán.

Và theo ông Lê Nhị Năng, Phó tổng giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM, trong chiến lược phát triển thị trường chứng khoán do Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành chỉ đề cập đến định hướng để sàn giao dịch tại Tp.HCM trở thành trung tâm, còn sàn giao dịch tại Hà Nội sẽ tập trung cho các cổ phiếu OTC...

Bà Trần Thị Thu, nguyên Giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Cần Thơ, thừa nhận: “ĐBSCL hiện chỉ có thị trường tiền tệ là “nổi” nhất. Còn chứng khoán... sắp tới chắc chắn sẽ phát triển, nhưng nhìn chung khó tính đến chuyện đẩy mạnh thị trường tài chính trước năm 2010”.

Phân tích thực tế kinh tế vùng này, TS. Võ Hùng Dũng, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh Cần Thơ, cho rằng: “Tốc độ tăng trưởng GDP vùng này chỉ bằng khoảng 80% so với bình quân cả nước. Cơ cấu kinh tế cũng khác hẳn khi tỷ lệ khu vực I (nông, lâm, thủy sản) chiếm hơn 44% - một tỷ lệ khá cao. Những con số thống kê cũng cho thấy ĐBSCL chiếm đến 77% số hộ nghèo. Thêm vào đó là tỷ lệ dân sinh sống tại các đô thị chỉ khoảng 21% (bình quân cả nước từ 27- 28%), lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm đến 58%. Do đó, có thể thấy là khả năng tiết kiệm của người dân vùng ĐBSCL không cao”.

Cuối năm 2006, tỷ lệ hộ nghèo ở vùng này còn đến 15,72%. Thực tế từ hoạt động của các ngân hàng trong vùng cũng cho thấy, doanh số huy động vốn hàng năm thường chỉ bằng 40% so với doanh số cho vay. Và nhu cầu vay từ phía các doanh nghiệp, người dân... vẫn còn rất lớn, nhưng chưa tiếp cận được với các ngân hàng do thiếu thông tin, không đủ điều kiện, tài sản thế chấp...

“Dân không có tiền thì làm gì có nhiều cơ hội đầu tư”, ông Năng đồng tình. Theo ông, khi thành lập sàn giao dịch chứng khoán, phải tìm hiểu kỹ về nhu cầu đầu tư, thu nhập của người dân... Một số công ty chứng khoán cũng đã về Cần Thơ tìm hiểu, nhưng phải “rút lui” vì nhận ra nhu cầu đầu tư quá thấp. “Nếu một tháng chỉ thực hiện được vài giao dịch thì làm sao đủ trang trải chi phí văn phòng, nhân viên...”, ông nói.

Ông Vũ Hoàng Nam, Giám đốc Ngân hàng Á Châu chi nhánh Cần Thơ, phân tích thêm, GDP của cả vùng ĐBSCL hiện chỉ vào khoảng 9,5 tỉ USD, không đủ làm “sôi động” sàn giao dịch chứng khoán - thường thu hút khoảng một phần ba GDP.

Và giả như sàn giao dịch được thành lập tại Cần Thơ, thì theo ông Năng: “Hàng hóa là gì? Chẳng lẽ “lấy” từ các công ty đang niêm yết tại Tp.HCM về?”. Thực tế hiện nay, số doanh nghiệp tại ĐBSCL có cổ phiếu niêm yết trên sàn chỉ đếm trên đầu ngón tay, phần lớn tập trung vào các doanh nghiệp ngành thủy sản và dược phẩm.

Như tại Cần Thơ, hiện chỉ có Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang đã niêm yết trên sàn và một vài công ty khác đang làm thủ tục niêm yết.

Theo ông Năng, hiện nay nhiều nước trên thế giới đang theo xu hướng chỉ cần một sở giao dịch chứng khoán. “Khi công nghệ thông tin phát triển mạnh, một nhà đầu tư ở tận Cà Mau cũng chỉ cần một cú nhấp chuột nhập lệnh là đã “hòa nhập” với sàn giao dịch tại Tp.HCM”, ông nói.


SCIC tiếp nhận phần vốn nhà nước 30.000 tỷ đồng giá trị thị trường

Hôm nay 6-9, Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) ra mắt Chi nhánh Khu vực phía Nam đặt Văn phòng tại tầng 1 tòa nhà ITAXA 126 Nguyễn Thị Minh Khai, quận 3, TPHCM. Đây là doanh nghiệp đặc biệt trực thuộc Chính phủ, hoạt động trong lĩnh vực đầu tư tài chính theo cơ chế thị trường và bình đẳng về kinh doanh cũng như nghĩa vụ đối với nhà nước.

Tại cuộc gặp gỡ báo giới ngày 5-9, Tiến sĩ Lê Thị Băng Tâm, Chủ tịch HĐQT SCIC cho biết sau 1 năm chính thức đi vào hoạt động, SCIC đã nhận bàn giao phần vốn nhà nước tại hơn 700 doanh nghiệp với giá trị sổ sách vào khoảng 7.000 tỷ đồng, giá tại thị trường tính đến thời điểm hiện tại ước khoảng 30.000 tỷ đồng. Theo dự tính đến cuối năm 2007, SCIC nhận bàn giao phần vốn Nhà nước khoảng 1.000 doanh nghiệp với tổng giá trị tăng lên khá cao.

Khi VIP cho tặng cổ phiếu

Gần đây, thị trường chứng khoán chộn rộn quanh những sự kiện tặng, cho cổ phiếu hoặc chia lại tài sản bằng cổ phiếu với số lượng lớn. Giá những cổ phiếu đó trên thị trường đã bị ảnh hưởng vì những thắc mắc và nghi vấn đã xảy ra về tính trung thực của những giao dịch này.

Xét trên góc độ pháp lý, một số những hành vi “tặng cho” cổ phiếu cần phải có sự xem xét thấu đáo. Đối với những cổ phiếu của các công ty cổ phần mới được thành lập chưa quá 3 năm, dù đã là công ty đại chúng hay chưa, thì các cổ phiếu của thành viên Hội đồng quản trị thường là cổ phiếu của cổ đông sáng lập.

Những cổ phiếu sáng lập này không được phép chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập của công ty. Việc chuyển nhượng chỉ được thực hiện khi có sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông của công ty đó. Quy định này nhằm ràng buộc trách nhiệm của cổ đông sáng lập là phải cam kết sát cánh với công ty.

Hơn nữa, trong các mẫu điều lệ do các Phòng đăng ký kinh doanh, các bộ phận đổi mới (cổ phần hoá) doanh nghiệp hoặc Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đưa ra thường có quy định này. Nhiều công ty sau khi cổ phần hoá có quy định là các thành viên Hội đồng quản trị phải có trách nhiệm nắm giữ số cổ phiếu của mình và không được chuyển nhượng trong vòng 3 năm kể từ ngày có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mới xác nhận công ty cổ phần.

Mặc dù pháp luật quy định như vậy, nhưng một số người đã tìm cách vượt qua giới hạn này. Tại các quy định về công ty cổ phần của Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán, không hề có quy định về “tặng, cho” cổ phần. Do vậy, một số người trong cuộc thường vận dụng đúng pháp luật bằng việc “tặng, cho” số cổ phiếu mà không phải là “chuyển nhượng”.

Việc “tặng, cho” này thường không phải thông qua Đại hội đồng cổ đông mà chỉ phải xin ý kiến của Hội đồng quản trị (nếu điều lệ có quy định) – mà đây là chỗ “anh em” cả nên rất dễ được thông qua. Những cuộc “tặng, cho” thường có giá trị lớn nhưng tính số cổ phần của giao dịch thì không bao giờ bị vượt quá 5%. Bởi vượt quá tỷ lệ này thì Luật Doanh nghiệp yêu cầu phải thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh và là số lượng trở thành “cổ đông lớn” mà Luật Chứng khoán đòi hỏi phải thông báo.

Cách làm của họ như vậy là không trái với các quy định của pháp luật. Để tránh cho thị trường bị “mẫn cảm” với hành vi trên, một số Hội đồng quản trị các công ty đã thông báo rằng, họ đã buộc người chủ sở hữu mới của số cổ phần đó không được bán ra thị trường ngay lập tức.

Tuy nhiên, nhiều người “nghi hoặc” về khả năng thực thi của thông báo đó. Bởi lẽ, những người đó không được coi là cổ đông sáng lập hay thành viên Hội đồng quản trị, cổ phiếu của họ được “tặng, cho” sẽ là cổ phiếu phổ thông và không hề bị ràng buộc về thời hạn nắm giữ. Họ sẽ dễ dàng chuyển nhượng cho người khác mà Hội đồng quản trị không thể kiểm soát được.

Trong cơn sốt chứng khoán vừa qua và hiện nay, một số người có được cơ hội trở thành cổ đông sáng lập của công ty cổ phần mới thành lập hay thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần hoá. Họ biết cách để làm cho giá cổ phiếu của doanh nghiệp tăng cao. Đến một thời điểm nhất định, những người đó đã bán một phần cổ phiếu mà mình nắm giữ. Họ có thể bán “chui” số cổ phiếu đó bằng những “giấy cam kết” hoặc “giấy đặt cọc mua cổ phiếu”, một phương thức phổ biến được nhiều người chấp nhận trên thị trường OTC. Thông qua “bán chui”, họ vẫn là thành viên Hội đồng quản trị hay cổ đông sáng lập và họ vẫn có quyền điều hành doanh nghiệp (ở một chừng mực nào đó, họ có thể làm cho giá của cổ phiếu giảm xuống để mua lại). Nếu không “bán chui” được thì “tặng, cho”. Như vậy, cổ đông và nhà đầu tư khác phải chịu rủi ro.

Trong phương thức quản trị kinh doanh mới ngày nay, nhiều chủ sở hữu doanh nghiệp (bao gồm cổ đông sáng lập, cổ đông lớn) của doanh nghiệp đã coi hành vi sở hữu vốn lâu dài tại doanh nghiệp là sự cam kết “đi theo cuộc hành trình” với các cổ đông và nhà đầu tư khác. Kết quả của hành vi này là tạo được niềm tin của thị trường nói chung về trách nhiệm của họ đối với doanh nghiệp, và gần ngay đó là niềm tin về sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đó tạo ra.

Còn nếu chỉ chú trọng tới “khoản lợi nhuận” trước mắt của cá nhân mình thì sẽ làm cho thị trường mất ngay niềm tin vào doanh nghiệp về sự cam kết và khả năng quản trị cũng như nhiều vấn đề khác. Và như vậy, hậu quả của sự mất niềm tin đó chắc nhiều người cũng hình dung ra, khi thực tế một số doanh nghiệp “tiếng tăm” đã bị lãnh hậu quả.

Cao su Đồng Phú chuẩn bị lên sàn HOSE

CTCP Cao su Đồng Phú cho biết, Sở GDCK TP.HCM đã nhận đầy đủ hồ sơ xin niêm yết 40 triệu cổ phiếu của Công ty.

CTCP Đồng Phú có vốn điều lệ 400 tỷ đồng, trụ sở chính tại Xã Thuận Phú Huyện Đồng Phú, Tỉnh Bình Phước.

Năm 2006, Công ty đạt sản lượng 17.204 tấn mủ cao su; doanh thu đạt 602,1 tỷ đồng; tổng lợi nhuận trước thuế đạt 204,6 tỷ đồng. 6 tháng đầu năm 2007, Công ty đạt tổng sản lượng khai thác 5.926 tấn mủ cao su, bằng 36,2% kế hoạch cả năm 2007; tổng doanh thu đạt 216,5 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế đạt 106,4 tỷ đồng.

Hiện Công ty đang triển khai một số dự án đầu tư nhằm mở rộng quy mô và đa dạng hóa ngành nghề sản xuất, kinh doanh như: dự án trồng 10.000 héc-ta cao su tại Tỉnh Krater, Vương quốc Campuchia; dự án trồng 4.000 héc-ta cao su tại Tỉnh Đắc Nông. Ngoài ra, Công ty đã tham gia góp vốn xây dựng đường BOT đoạn từ Thị xã Đồng Xoài – Phước Long (Tỉnh Bình Phước), đường BOT đoạn từ Tân Lập (Tỉnh Bình Phước) đến ngã ba Cổng Xanh (Tỉnh Bình Dương) với số vốn hơn 43,8 tỷ đồng

Công ty cổ phần Nhựa Tân Phú đăng ký xin niêm yết tại HaSTC

Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội vừa nhận đuợc hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu của Công ty cổ phần Nhựa Tân Phú, trụ sở đặt tại 314 Lũy Bán Bích, Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Công ty có vốn điều lệ là 20 tỷ đồng, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm bao bì, phụ tùng, linh kiện, nhựa phục vụ cho các ngành công, nông, ngư nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông và dân dụng; chế tạo khuôn mẫu, phụ tùng ngành nhựa, mua bán nguyên liệu, vật tư sản xuất ngành nhựa, ngành xây dựng, hàng gia dụng; xây dựng dân dụng, công nghiệp, giao thông; kinh doanh nhà ở; cho thuê văn phòng, nhà xưởng, kho bãi; đại lý ký gởi, mua bán hàng hóa; sản xuất và mua bán nước tinh khiết đóng chai.

Cơ cấu vốn điều lệ của Công ty cổ phần Nhựa Tân Phú là: Nhà nước nắm 22,19%, cổ đông trong công ty nắm 56,57%, cổ đông ngoài công ty là 21,24%.

Đấu giá cổ phần của Tổng công ty may Việt Tiến

Số lượng cổ phần bán đấu giá 4.028.600 cổ phần

Giá khởi điểm 20.000 đồng/cổ phần

Thời gian và địa điểm đấu giá 9g ngày 28-9 tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM

Lại tính nhầm 'room' của nhà đầu tư nước ngoài

Sáng nay, nhà đầu tư nước ngoài sẽ không được mua thêm bất kỳ cổ phiếu nào của Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sản Bến Tre, mã ABT, bởi hôm qua, Trung tâm Lưu ký chứng khoán, chi nhánh TP HCM đã tính nhầm room của cổ phiếu này.

Tính theo số cổ phiếu niêm yết trên sàn, tổng mức sở hữu được phép của nhà đầu tư ngoại trong ABT là 3.087.000 đơn vị. Sau thời gian giao dịch, room còn lại không nhiều, nhưng đầu giờ sáng qua, Trung tâm Lưu ký công bố tỷ lệ còn lại mà nhà đầu tư được phép mua lên đến 777.555 đơn vị. "Nhờ" sự sai sót này, nhà đầu tư nước ngoài đã nhân cơ hội đặt mua vượt 0,01% tỷ lệ cho phép.

Cũng trong hôm qua, "nhà gác room" đã tự động nâng tỷ lệ sở hữu còn lại của nhà đầu tư ngoại trong Công ty công ty cổ phần Khu công nghiệp Tân Tạo, mã ITA lên 15,9 triệu. Đến đầu giờ sáng nay, con số này được điều chỉnh lại chỉ còn 13,9 triệu đơn vị.

Đây là lần thứ hai Trung tâm Lưu ký chứng khoán sai sót về room. Trước đó, vào ngày 21/8, đơn vị này đã tự động đưa tỷ lệ sở hữu của cổ phiếu Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) từ 30% lên 49% khiến nhà đầu tư ngoại ào ào đặt mua với giá trần.


Vinamilk bị đề nghị trả lại công quỹ hơn 40 tỷ đồng

Thanh tra Chính phủ vừa kiến nghị thu hồi hơn 40 tỷ đồng sai phạm trong quá trình cổ phần hóa tại Công ty Sữa Việt Nam (Vinamilk). Tuy nhiên, doanh nghiệp đang gửi đơn kiến nghị lên Thủ tướng để kêu oan.

Theo kết quả Thanh tra Chính phủ công bố hôm 30/8, năm 2005, khi bán 10,46% phần vốn nhà nước ra bên ngoài, Vinamilk thu được 812,7 tỷ đồng.

Nhưng công ty chậm nộp vào Quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. Vì vậy, Thanh tra Chính phủ đã kiến nghị thu hồi số tiền hơn 28,8 tỷ đồng lãi khoản nộp chậm này. Đồng thời, công ty cũng phải nộp lại gần 12 tỷ đồng tiền gốc và lãi phải trả khi phát hành thêm cổ phiếu.

Phương án cổ phần hóa Vinamilk được Bộ Công nghiệp phê duyệt năm 2003. Thời điểm đó, vốn điều lệ công ty là 1.500 tỷ đồng trong đó có 80% vốn nhà nước. Công ty được bán 12,54% vốn điều lệ cho nhân viên (11,12% bán bằng mệnh giá), 2,66% cổ phần ưu đãi cho nông dân chăn nuôi bò sữa và bán đấu giá ra bên ngoài 4,8%.

Cũng theo kết quả thanh tra, Vinamilk còn có một số sai phạm khác trong việc mua bán cổ phần.

Cụ thể: trong lần phát hành đầu tiên, lẽ ra cán bộ công nhân viên Vinamilk được mua 11,2% tổng số cổ phần, công ty đã lấy gần 95.000 cổ phần để bán cho các đối tượng khác. Trong đó, trên 20.000 đơn vị (tương đương 2 tỷ đồng), được bán cho cán bộ hưu trí. Gần 73.000 cổ phần khác (giá trị khoảng 7 tỷ đồng) được bán cho cá nhân ngoài công ty như cán bộ của các Bộ Công nghiệp, Tài chính và Cục Thuế TP HCM.

Đối với số cổ phần được phép bán cho nông dân, Thanh tra khẳng định, nông dân đã không mua hết nhưng công ty không báo cáo với Bộ Công nghiệp để điều chỉnh phương án, mà tự ý dùng quỹ khen thưởng và phúc lợi của công ty để mua lại. Cách làm này sai quy định của Bộ Tài chính.

Vinamilk chỉ chịu nộp phạt 28,8 tỷ đồng

Tổng giám đốc Vinamilk Mai Kiều Liên ngày 5/9 tuyên bố, sẽ chỉ nộp lại khoản tiền 28,8 tỷ đồng trong số hơn 40 tỷ đồng mà thanh tra kiến nghị thu hồi.

Bà Liên giải thích, năm 2005 khi bán 10,46% vốn nhà nước ra bên ngoài theo quy định, Vinamilk chỉ được giữ tiền trong một tháng. Nhưng lúc đó công ty vừa ký kết hợp đồng xuất khẩu trị giá vài chục triệu USD với Iraq nên cần số vốn lớn để hoàn thành hợp đồng. Vinamilk đã làm đơn kiến nghị Bộ Tài chính, xin giữ lại hơn số tiền này trong vòng 4 tháng. Nay, Vinamilk chấp nhận nộp phạt đối với khoản 28,8 tỷ đồng.

Riêng khoản gần 12 tỷ đồng phải trả theo kiến nghị của thanh tra, bà Liên cho rằng đây là phần chênh lệch khi phát hành thêm cổ phiếu nên thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Theo bà, trong đợt phát hành cổ phiếu ra công chúng năm 2005, tính theo mệnh giá được hơn 1.400 tỷ đồng. Tuy nhiên, để làm chẵn thành 1.500 tỷ đồng, Vinamilk đã phát hành thêm cổ phiếu và bán với giá gấp 1,5 lần mệnh giá. Số tiền chênh lệch thu được khoảng 9 tỷ đồng và được giữ lại để bổ sung vào thặng dư vốn của công ty.

Bà Liên cho rằng, việc Thanh tra "bắt" công ty phải nộp lại số tiền 9 tỷ cộng với hơn 2 tỷ đồng tiền lãi chậm nộp là không công bằng và sẽ gây thắc mắc cho nhà đầu tư.

"Vinamilk đã gửi đơn kiến nghị lên Thủ tướng đề nghị xem xét", bà Liên nói.

Đối với 95.000 cổ phần ưu đãi cho cán bộ công nhân viên mà Thanh tra cho rằng công ty đã trao nhầm đối tượng, bà Liên cho rằng số cổ phần trên đã được bán cho cán bộ về hưu và công nhân viên nhà máy sữa Sài Gòn, Lục Bình, nơi công ty này góp 70% vốn. Vinamilk xem như đây là đãi ngộ những người có công với công ty.

Quan điểm Vinamilk, việc trích quỹ phúc lợi của công ty để mua hơn 4.000 cổ phần ế của người nông dân là hợp lý. Bởi theo quy định, khi cán bộ công nhân viên không mua thì tổ chức phát hành mới phải sửa đổi phương án phát hành và tổ chức đấu giá lại. "Đến nay số cổ phiếu này vẫn nằm trong quỹ phúc lợi và chưa chia cho cá nhân nào", Tổng giám đốc Vinamilk khẳng định.

Hiện VNM là công ty niêm yết có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất với 29.000 tỷ đồng. Trong đó, Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) nắm 46,7%, tương đương gần 15.000 tỷ đồng.


TTCK ngày 6.9: Nhà đầu tư tiếp tục mua vào

Sau một ngày giảm nhẹ, thị trường hôm nay tiếp tục có những tín hiệu lạc quan cho các nhà đầu tư. Chỉ số VN-Index tăng nhẹ trở lại, mức giao dịch được giữ ở mức cao khiến cho thị trường bắt đầu "ấm" dần lên.

Ở cả 3 phiên giao dịch, hàn thử biểu của VN-Index đều là một mũi tên hướng lên. Đóng cửa giao dịch, VN-Index tăng 2,79 điểm (tương đương tăng 0,3%) đạt mức 928,36 điểm. Khối lượng giao dịch trong ngày đạt 6,87 triệu CP với giá trị tương đương 518 tỷ đồng.

Cầu tiếp tục tăng cao khi nhiều mã CP có chỉ số dư bán bằng 0 như DPC, FMC, GIL, HAP... Chưa kể các mã CP nhỏ đang tiếp tục trở thành đối tượng "săn tìm" của các nhà đầu tư nhỏ lẻ, bởi đơn giản nó vừa hợp túi tiền vừa dễ tăng trong thời gian tới. Với tình hình đó, bảng điện tử được phủ bởi màu xanh hy vọng. Kết thúc ngày giao dịch có 54 mã CP tăng giá, 28 mã giữ mức tham chiếu và 33 mã giảm giá.

Dẫn đầu thị trường về mức độ tăng giá là mã TCT. Sau vài phiên sụt mạnh, hôm nay TCT đã hồi phục trở lại với mức tăng 10.000đ/CP chốt ở mức 370.000đ/CP với mức giao dịch gần 20.000 đơn vị. Đồng hành với TCT là "người bạn" Khoáng sản Bình Định BMC với mức lên 7.000đ chốt ở mức 517.000đ/CP. Hôm nay, BMC cũng có mức giao dịch khá với khoảng 40.000 đơn vị được khớp lệnh. Số CP tăng giá còn lại có LGC tăng 5.000đ lên 120.000đ/CP, HAP lên 4.000đ chốt ở giá 90.000đ/CP.

Nhu cầu quá cao của thị trường đối với các CP nhỏ khiến cho số lượng cũng như giá cả của các CP này tăng vọt đáng kể. Thống kê cho thấy có 10/54 mã tăng kịch trần gồm: ST4, TRI, SGC, SHC, RIC, LGC, LBM, HAP... Trong đó, LBM và HAP chen chân được vào top 5 chứng khoán có khối lượng giao dịch nhiều nhất trong ngày. LBM xếp thứ tư thị trường khi có 280.860 đơn vị giao dịch, còn HAP đứng kế tiếp đó với 253.000 đơn vị.

Dẫn đầu về khối lượng giao dịch trong ngày vẫn là STB với 966.110 đơn vị được khớp lệnh. Hôm nay, mã CP có giá trị thanh khoản nhất thị trường này tăng được 500đ đứng ở mức 55.000đ/Cp. VF1 đứng thứ hai với 530.360 chứng chỉ quỹ được mua bán, BBT xếp kế tiếp với 416.620 đơn vị giao dịch.

Với mức chuyển hướng của các nhà đầu tư, các mã blue-chip tiếp tục vẫn giữ ở mức tham chiếu hoặc sụt nhẹ. FPT giữ ở mức 225.000đ/CP; ITA có giá 137.000đ/CP; REE 136.000đ/CP. Các mã giảm nhẹ có DHG, NKD, SAM cùng sụt 2.000đ giữ ở mức 388.000đ/CP; 230.000đ/CP và 148.000đ/CP.

Theo anh Hoàng Văn Thái - một nhà đầu tư tại sàn SSI, việc tăng trưởng của thị trường vào thời điểm này chắc chắn sẽ được duy trì. Bởi lẽ, các nhà đầu tư đã phải chờ đợi quá lâu khi giá trị của thị trường xuống đến gần điểm đáy. Sau lễ 2.9, VN-Index tăng mạnh đã tác động đến tâm lý của các nhà đầu tư là cùng quay trở lại và chắc hẳn tác động đó sẽ tiếp tục giúp cho thị trường phát triển bền vững.

Một nhà đầu tư giấu tên cũng tại sàn SSI khẳng định, đây là thời điểm quá tốt để mua vào các CP. Theo anh phân tích, với mức giá xuống thấp như hiện nay, gần như CP nào cũng đều trở nên "hấp dẫn" trên thị trường cho cả đầu tư dài hạn và ngắn hạn.

** Tại thị trường Hà Nội, chỉ số Hastc-Index cũng tăng nhẹ 0,85 điểm (tương đương tăng 0,34%) chốt ở mức 254,57 điểm. Khối lượng giao dịch có giảm chút đỉnh khi chỉ có 991.200 đơn vị được mua bán nhưng giá trị vẫn ở mức trên 100 tỷ đồng.

Hôm nay, mã SSI tiếp tục dẫn đầu thị trường với khối lượng giao dịch đạt mức cao 321.300 đơn vị. ACB đứng thứ hai với 102.300 đơn vị khớp lệnh, TBC đứng kế tiếp với 98.300 đơn vị.


6/9: TTCK sôi động, VN-Index tăng điểm vào cuối phiên

Rất nhiều cổ phiếu tăng giá vào cuối phiên giao dịch 6/9 sau khi giảm nhẹ trong phiên giao dịch trước đó, giúp chỉ VN-Index tăng trở lại, lên sát 930 điểm. Khối lượng giao dịch tiếp tục được duy trì ở mức cao so với mức trung bình nhiều tháng gần đây.

Theo một đơn vị cung cấp thông tin chứng khoán, với 3 phiên tăng điểm mạnh trước đó, nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ đã bán ra kiếm lời nhanh chóng trong phiên giao dịch ngày hôm qua và trong đợt giao dịch thứ nhất sáng 6/9. Tuy nhiên, với khá nhiều dự báo tốt lành từ các tổ chức đầu tư lớn nước ngoài, lượng đặt mua vào đã không suy giảm. Nhờ đó, đa số cổ phiếu đã tăng giá vào cuối phiên.

Cụ thể, kết thúc phiên giao dịch sáng 06/9, chỉ số VN-Index tăng nhẹ 2,79 điểm (tương đương tăng 0,3%) lên 928,36 điểm.

Trong số 112 cổ phiếu có mặt trên sàn chứng khoán TP.HCM, 54 mã cổ phiếu tăng giá, 31 mã giảm giá và 28 đứng giá. Trong 2 chứng chỉ quỹ, BF1 giảm 200 đồng xuống 11.000 đồng/ccq, còn VF1 giảm 100 đồng xuống 30.200 đồng/ccq.

Tổng khối lượng giao dịch (cả cổ phiếu và chứng chỉ quỹ) trong toàn phiên đạt gần 6,9 triệu đơn vị, trị giá 518 tỷ đồng (riêng cổ phiếu đạt hơn 6,23 triệu đơn vị).

Kết thúc đợt giao dịch 3, tổng khối lượng dư mua ở 3 mức giá cao nhất của tất cả cổ phiếu và chứng chỉ quỹ là hơn 2,4 triệu đơn vị. Trong khi đó, dư bán ở 3 mức giá thấp nhất đạt hơn 2,54 triệu đơn vị.

Trong 2 cổ phiếu “hiếm”, TCT (Cáp treo Núi Bà Tây Ninh) tiếp tục duy trì được cú đảo chiều ngoạn mục trong đợt 2 với mức tăng chung cuộc là 10.000 đồng. Trong khi đó, BMC (Khoáng sản Bình Định) chỉ còn tăng 7.000 đồng nhưng so với mức giảm 5.000 đồng trong đợt 1 thì cũng đã là một bước ngoặt.

Cổ phiếu PVD (Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí - PV Drilling) tiếp tục 4.000 đồng vào cuối phiên khiến các cổ đông vui mừng (đợt 1 tăng 2.000 đồng, đợt 2 tăng 3.000 đồng).

Nhiều cổ phiếu chủ chốt khác tăng giá bao gồm: GMD (Gemadept) tăng 2.000 đồng, KDC (Bánh kẹo Kinh Đô) tăng 2.000 đồng, IMP (Dược phẩm Imexpharm) tăng 1.000 đồng, VNM (Vinamilk) tăng 1.000 đồng. Đây đều là các cổ phiếu đứng giá trong đợt 1.

Cổ phiếu mới lên sàn trong phiên giao dịch ngày hôm qua (5/9) là ACL (Xuất nhập khẩu Thuỷ sản Cửu Long, An Giang) đóng cửa ở mức 78.500 đồng/cp, giảm 2.500 đồng, với 222.430 cổ phần được chuyển nhượng thông qua khớp lệnh.

Nhiều nhà đầu tư có mặt trên sàn giao dịch các công ty chứng khoán An Bình, Kim Long, APEC, SeABank sáng nay cho biết họ đang có kế hoạch mua vào các cổ phiếu lớn trên thị trường với niềm tin TTCK đang trong xu hướng đi lên, mà biểu hiện rõ nét nhất là khối lượng giao dịch đã được cải thiện rất nhiều so với 3 tháng trước đó.


5 thg 9, 2007

VN-Index và những đặc thù của TTCK Việt Nam

Tháng 8, cùng với tình hình ảm đạm của thị trường chứng khoán (TTCK) nhiều nước trên thế giới, TTCK Việt Nam có xu hướng hạ nhiệt, chỉ số VN-Index đi xuống. Dưới giác độ của các nhà quan sát, phân tích, điều này được nhìn nhận như thế nào?

Là xu hướng chung, “phản ứng dây chuyền” hay TTCKVN còn có những đặc thù khác? Từ nay đến cuối năm, TTCK sẽ tăng trưởng khởi sắc hay ảm đạm? Các chuyên viên kinh tế thân hữu của DNSGCT đã cùng nhau lý giải trong cuộc tọa đàm tháng 8 “TTCK Việt Nam những tháng cuối năm 2007”.

Có tính được VN-Index và VN-Index có là hàn thử biểu của nền kinh tế?

Thật lý thú khi người có chức danh cao nhất, ông Nguyễn Hữu Nam, Tổng giám đốc Công ty chứng khoán Gia Quyền, lại là người trẻ tuổi nhất và vừa vào phòng họp đã vòng tay “thưa thầy” với Luật sư Nguyễn Ngọc Bích và ông Huỳnh Bửu Sơn, Giám đốc đối ngoại của PepsiCo VN, trước khi vào cuộc “anh, tôi”.

Có lẽ vì “vai vế” này, nên khi thấy mọi người nhường nhau “khai cuộc”, hai ông Sơn và Bích đã mời đích danh ông Nam, ông Bích còn nói thêm: “Anh Nam, giờ anh là “ông Tổng”, công ty chứng khoán (CK) của anh như con thuyền trên biển lớn TTCK, vậy anh có thể cho biết cảm giác của anh như thế nào, say sóng ra làm sao, đã thấy hụt nước hay chưa…”.

Ông Nam - dù nói đi nói lại “dự đoán là việc rất khó” - vẫn phải lẩm bẩm: “Thầy lại ra đề bài nữa rồi” và tìm ra một giải pháp an toàn là… mượn ý người khác:

- Xin lấy một công trình thống kê từ năm 1956 đến 2006 của Tiến sĩ Robert Thibadeau, giáo sư Đại học Harvard (Mỹ) về những biến động của các đồ thị, để nói vài điều. Thống kê đó đã rút ra được một số quy luật. Chẳng hạn đồ thị lạm phát ngược chiều với đồ thị chỉ số CK, đồ thị giá vàng và đồ thị lạm phát gần trùng nhau nhưng đồ thị giá vàng chậm hơn một nhịp.

Năm 2006, tôi được xem công trình nghiên cứu của một chuyên viên người Mỹ thống kê trong ba năm thì đồ thị của VN-Index trùng với đồ thị giá các chỉ số CK bình quân của TTCK châu Á - Thái Bình Dương (trừ Nhật Bản).

Tuy nhiên, đồ thị của chỉ số FDI (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) và TTCKVN không giống nhau (hiện FDI của VN đi lên, trong khi VN-Index đang đi xuống hoặc đi ngang) lại là sự khác biệt so với các nước…

Nhập đề mang đầy tính thống kê này không ngờ có tính khơi gợi cao. Ông Nguyễn Ngọc Bích cho rằng các dữ liệu thống kê của nước ngoài (tiêu biểu là Mỹ) có tính ổn định và bền vững, khác với TTCKVN đang còn ở buổi ban đầu và đặc biệt còn phụ thuộc vào yếu tố tâm lý.

Những con số thống kê kia chỉ “xem để biết” thôi chứ không thể dùng để dự báo TTCKVN từ nay đến cuối năm. Muốn dự báo, phải nhìn sâu vào hoạt động của các công ty, nhu cầu cần tiền của họ như thế nào, khả năng sinh lợi ra sao…

Ông Hữu Nam tiếp tục đưa một thống kê khác:Thêm một điều rất lạ là theo thống kê của Robert Thibadeau, đồ thị giá cổ phiếu ngân hàng và đồ thị lạm phát tương đồng, cũng giống như đồ thị giá vàng, điều này rất khác với ở VN. VN-Index xuống thì giá CK ngân hàng cũng xuống luôn. Tôi chưa lý giải được điều này. Có thể anh Bích nói đúng, đó là đặc thù của VN...”.

Ông Trần Sĩ Chương, một chuyên gia kinh tế từng sống và làm việc nhiều năm tại Mỹ, hiện là Giám đốc Tư vấn chiến lược doanh nghiệp Công ty Le & Associations, không cho rằng chuyện VN-Index tăng giảm đột biến hay ngược với thống kê của Mỹ là điều đáng ngạc nhiên:

Muốn bàn về VN-Index, trước tiên ta phải xác định rõ VN-Index là gì. Hình dung VN-Index là phương trình của một số biến số (x, y, z…) thì dù ở nước phát triển hay đang phát triển, số biến số này phải giống nhau.

Tuy nhiên, lại có nhiều điểm khác biệt. Một ví dụ về cái khác đó là trong khi hệ thống pháp lý các nước phát triển ổn định, biến số về mức độ ổn định của hệ thống pháp lý gần như là một hằng số, không tác động đến phương trình, thì ở VN đó lại là một phương trình của những biến số khác nữa.

Chuyện anh Hữu Nam nói về thống kê các biểu đồ bên Mỹ thật sự chỉ thể hiện cái cơ bản nhất của kinh tế học. Lạm phát lên thì chỉ số CK xuống, vì chỉ số này thể hiện sức khỏe của nền kinh tế.

Thêm nữa, ở VN có những chuyện mà một nước phát triển như Mỹ không có. Ví dụ kiến thức của nhà đầu tư (NĐT) - xương sống của TTCK - ở VN cũng là một biến số có thể xem như một phương trình con...

Chính những điều này giải thích luôn vì sao biểu đồ FDI bên Mỹ và các nước phát triển ổn định khác song hành cùng TTCK, vì nguồn vốn FDI và nguồn vốn trên TTCK cùng thể hiện lòng tin của NĐT về mặt trung và dài hạn vào nền kinh tế một nước. Trong khi ở VN, chỉ FDI là nguồn vốn trung và dài hạn, còn nguồn vốn đầu tư vào TTCK lại có phần… ngắn hạn! Vì vậy mới có sự ngược chiều”.

Ông Chương còn đưa ra nhận xét là chỉ số VN-Index vừa là nguyên nhân, lại vừa là hệ quả của… VN-Index, bởi VN-Index hôm nay chịu ảnh hưởng của VN-Index hôm qua và lại tác động đến VN-Index ngày mai, về mặt tâm lý. Hôm qua VN-Index là 1.000, ngày nay xuống 980, thì xác suất ngày mai VN-Index xuống 960 cao hơn là xác xuất lên lại 1.000, nghĩa là yếu tố tâm lý có trọng số lớn trong phương trình tính VN-Index.

Cũng chính vì vậy, vẫn có thể tính được VN-Index, nhưng khó hơn tính chỉ số ở Mỹ, vì có nhiều biến số biến đổi nhanh hơn. Nói cách khác, các biến số ở VN đều đang thay đổi theo thời gian và muốn dự đoán VN-Index ngày mai thế nào, phải xem những biến số này nhạy cảm với những chuyện gì.

Lời lý giải đầy tính thuyết phục nên mọi người đều tán đồng. Ông Bích bổ sung sự “thiếu thuyết phục” của VN-Index so với Nasdaq của Mỹ hay Nikkei của Nhật:

“Trong khi ở Mỹ, người ta tính Index dựa trên những công ty tiêu biểu, ổn định, có tính bền vững cao, thì VN khi thiết lập VN-Index đã lấy toàn bộ các công ty đang niêm yết ở thời điểm đó (chỉ có... hai công ty, mã CK là SAM và REE, với VN-Index thời điểm 28/7/2000 là 100 điểm), là điều rất khiên cưỡng. Bởi thế, chỉ nên xem VN-Index là một dấu hiệu, nếu muốn phân tích sâu hơn ta phải tìm hiểu cả nền kinh tế…”.

Ông Huy Nam, một chuyên viên trong lĩnh vực tài chính - CK đồng tình: “Index của VN không đại diện cho sức khỏe nền kinh tế, là một hàn thử biểu của nền kinh tế như các nước, nên chưa thể dùng nó để so sánh với các chỉ số của Mỹ hay các thị trường ổn định khác, hoặc dự đoán theo kinh nghiệm các nước đi trước”.

Yếu tố tâm lý. Đã lôi kéo được tiền nhàn rỗi trong dân vào TTCK? Kỹ thuật “mồi”, “nuôi” của các nhà đầu tư nước ngoài

Ông Huy Nam khai triển “yếu tố tâm lý” trong TTCKVN mà hai ông Chương và Bích đề cập:

Ở VN yếu tố tâm lý rất mạnh, NĐT không chỉ nhìn nhau, nhìn vào các NĐT nước ngoài (NĐTNN), vào chính sách,… mà còn nhìn vào cả những lời tuyên bố để ra quyết định.

Ví dụ khi có tổ chức đưa ra nhận định “VN-Index sẽ giảm đến…” thì chính nhận định này dắt chỉ số đi, chứ không phải nền kinh tế hay sức khỏe các công ty niêm yết suy giảm.

Ở một thị trường phụ thuộc vào tâm lý sẽ có nhiều dự đoán kiểu đó. Như HSBC khi dự đoán VN-Index xuống 900 điểm cũng chính là lời dẫn dắt chỉ số đi xuống, đến khi xuống rồi, họ nói: “VN-Index đã xuống đúng dự đoán của tôi và bây giờ tôi mua vào để đầu tư dài hạn”.

Tôi cho rằng các NĐT trong nước nên bình tĩnh mua CK vào, bởi tương lai nền kinh tế chúng ta rất tốt, GDP tăng trưởng rất lạc quan. Sáu tháng cuối năm kinh tế sẽ tăng trưởng hơn sáu tháng đầu năm, lạm phát tuy có cao nhưng những quyết định gần đây của Chính phủ sẽ giúp giảm thiểu…”.

Ông Chương đột nhiên cắt ngang: “Vậy theo anh, trong những năm qua TTCKVN đã lôi được bao nhiêu tiền dưới gầm giường của người dân?”. Ông Huy Nam: “Chưa thống kê được, nhưng theo tôi là chưa nhiều”.

Nhìn nhận căn nguyên giá CK nhiều công ty cao hơn giá trị thực, ông Bích cho rằng giá CK chỉ tăng nhanh sau khi nhiều NĐTNN mua vào CK của các công ty như FPT, sau đó các NĐTVN mua theo, khiến giá leo thang. Giá CK có xuống hay không tùy vào các NĐTNN có “quăng” ra hay không.

Trên nguyên tắc, các NĐTNN có thể nắm 49% cổ phần, đó chính là lực lượng khiến giá CK lên hay xuống, chứ không phải do các công ty niêm yết tác động, bởi các công ty này chẳng công bố nhiều thông tin đủ để gây tác động.

Ông Chương cười: “Chỉ cần thao túng được 20% thị trường thôi, nói gì đến 49%, đã có thể dẫn dắt rồi. Giá xuống anh mua, vì anh mua nên giá lên, giá lên anh bán kiếm lời, rồi vì anh bán nhiều nên giá xuống, giá xuống anh lại mua, rồi lại bán… Chơi kiểu gì cũng có lời! Có thể nói, dưới giác độ một NĐTNN thì VN là nơi lý tưởng để “chơi” CK”.

Với kinh nghiệm nhiều năm điều hành các công ty CK, ông Hữu Nam hoàn toàn đồng tình:

“Các NĐTNN một khi đã trữ một khối lượng lớn CK thì dĩ nhiên sẽ tác động để CK của họ mạnh lên. Ngoài mặt tích cực là hỗ trợ cho doanh nghiệp trong các vấn đề liên quan đến quản trị, họ còn vận dụng những kỹ thuật, chiến thuật rất hay trong mua bán CK. Giá CK xuống họ “nuôi”, mua vào một chút, giá lên cũng mua vào chút chút để “mồi”, kỹ thuật “nuôi, mồi” của họ là số một, các NĐTVN chưa thể theo kịp.

Theo tôi, nếu tính thanh khoản của TTCK tốt và nếu một số doanh nghiệp VN có sức khỏe tốt và niêm yết ở thị trường nước ngoài thì sẽ rải đều được rủi ro, chứ không tập trung như hiện tại.

Có hai điển hình là Đức và Nhật. Người Đức đặt TTCK qua một bên, phát triển thị trường trái phiếu và đã có một nền kinh tế cực kỳ ổn định, đứng hàng thứ ba thế giới. Nhật thì hầu hết các doanh nghiệp lớn đều niêm yết ra nước ngoài nên khó gây ra khủng hoảng kinh tế cho đất nước”.

Vấn đề chính sách. Yếu tố gây sốc của TTCKVN là… không thể định lượng. Sẽ còn nhiều “đại gia” kiểu FPT “lâm bệnh”

Ông Huỳnh Bửu Sơn bắt đầu tham gia: “Với tư cách người quan sát, ngoài những yếu tố liên quan đến thị trường các anh đã đề cập, tôi muốn thêm yếu tố chính sách, quan điểm của Nhà nước đối với TTCK. Chỉ riêng với nguồn vốn đầu tư gián tiếp (FII) cũng đã có hai quan điểm mà đến giờ chưa biết quan điểm nào sẽ thắng thế.

Một là nên ngăn chặn và kiểm soát FII, không để nguồn vốn này tự do thao túng, gây nguy hiểm cho nền kinh tế, bởi khi đổ vào TTCK, vốn FII đã tác động làm cho đồng tiền VN tăng giá rồi khi thị trường biến động NĐTNN rút vốn ra ào ạt sẽ gây rối loạn, thậm chí sụp đổ thị trường, đồng thời làm hao hụt dự trữ ngoại tệ quốc gia. Thái Lan năm 1997 là một ví dụ. Quan điểm thứ hai là bây giờ đã hội nhập vào WTO, nhưng cánh cửa TTCK mới hé ra đã vội khép lại sẽ làm mất niềm tin của NĐTNN.

Nên nhớ FII không phải là nguồn tiền đầu tư trực tiếp tạo ra tăng trưởng kinh tế. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng nên khơi nguồn từ bên trong, tức là tạo điều kiện để tiền tiết kiệm của người dân trong nước tham gia TTCK.

Vừa rồi anh Chương có hỏi TTCK đã lôi được từ gầm giường của dân bao nhiêu tiền rồi, câu trả lời là “không bao nhiêu cả”. Dân đang quan sát thôi! Chỉ có một số ít tham gia, nhưng phần lớn các NĐT cá nhân thường vay tiền ngân hàng để đầu cơ CK và đang gặp khó khăn do VN-Index đi xuống. Khả năng phục hồi cần nhiều thời gian hoặc một biến cố tạo hiệu ứng tâm lý tích cực, chẳng hạn giai đoạn cuối 2006, đầu 2007 khi nước ta tổ chức thành công APEC và chuẩn bị vào WTO”.

Đúng là trong điều kiện kinh tế ổn định, khi nền kinh tế bị tác động bởi một yếu tố mang tính sốc, người ta có thể tính toán được. Ví dụ một trận bão tuyết gây thiệt hại nặng nề cho một vùng nào đó ở Mỹ, hay một cuộc đình công lớn xảy ra, thì quý đó tăng trưởng của địa phương này sẽ giảm đi x% tương ứng.

Còn ở VN cũng có sốc nhưng là sốc tâm lý, việc hồ hởi khi vào WTO là loại sốc đó, làm cho nền kinh tế nói chung và một phần của nền kinh tế là TTCK nói riêng cũng cư xử theo cách “không giống ai”. Hồ hởi quá, buồn quá (tháng 7, tháng 8 trời mưa) đều sốc. Nếu cái sốc của nước người có tính rõ ràng, khi “cơ thể” nền kinh tế bị chảy máu, xuất huyết thật, thì ở nước ta không ai biết thương tổn ấy nằm ở đâu cả.

Ông Chương đề cập một khía cạnh nữa:

- Thực ra, những rủi ro, sự nhạy cảm của TTCK thì nước nào cũng có. Nhưng có một rủi ro đặc thù ảnh hưởng tương đối lớn đến giá cổ phiếu trên TTCKVN, không phải do sự quản lý vĩ mô của Nhà nước mà từ những cổ phiếu của các “đại gia”.

FPT là điển hình. Cách đây 1-2 năm, kiến thức, kinh nghiệm của các NĐT chưa cao nên họ chưa biết đánh giá thiệt hơn, cứ thấy cổ phiếu của đại gia là mua. Khi các công ty này đã nằm trong một thị trường được yêu cầu những thông tin chuẩn hóa và đặc biệt khi NĐT có kiến thức hơn, thì “tình hình sức khỏe” của các công ty - những cái không chuẩn mới dần lộ diện. Mà chắc chắn sẽ có những cái không chuẩn, vì ý thức chuẩn hóa của công ty thời điểm trước đó là không có, cam kết về chuẩn hóa hệ thống cũng không, nên khi ra nắng ra gió sẽ bị cảm mạo thương hàn.

Lúc đó NĐT mới ngộ ra rằng thì ra “nó” cũng bị bệnh và họ sẽ có phản ứng rất tiêu cực. Chính điều này là rủi ro lớn nhất, khi không chỉ một mà hàng chục, hàng trăm đại gia trong vòng một năm tới sẽ bị tác động bởi yêu cầu chuẩn hóa hơn, minh bạch hơn của thị trường và sự trưởng thành hơn của NĐT. Chuyện FPT chỉ là bề nổi của tảng băng.

Ông Huy Nam đồng ý và còn gay gắt hơn:

- Theo tôi, thật không đúng khi gọi cổ phiếu những công ty này là “blue chip”. Hiện nhiều người vẫn lầm tưởng, thậm chí còn tư vấn mua cổ phiếu của những “ông” đó. Ở thị trường VN nên dè chừng, dù chúng ta muốn công nhận hay không thì các NĐTNN vẫn đã và đang dẫn dắt thị trường. Chính họ đang “đánh” trên những “blue chip” đó, để lôi kéo người khác đánh theo.

Như muốn xoa dịu, ông Sơn cười: “Thì nếu so sánh với những cổ phiếu khác, đó là blue chip chứ gì nữa! Vấn đề chuẩn hóa như anh Chương nói cũng là một yếu tố, nhưng còn một yếu tố theo tôi là lớn hơn nữa, đó là thời gian từ khi chúng ta vào WTO đến nay con sóng WTO vẫn chưa tràn tới.

Sắp tới, làn sóng cạnh tranh ấy mới thực sự tràn vào, tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đe dọa sự tồn tại của các công ty trong nước. Đó mới thực sự là nguy cơ.

Các công ty không nên tự hào về cổ phiếu “blue chip” cao giá của mình mà quên đi việc nâng cao năng lực và hiệu quả cạnh tranh. Giai đoạn vừa qua có rất nhiều ngân hàng, công ty chơi trò ảo thuật tăng vốn lên, mục đích để bán cổ phiếu với giá cao mà nhiều NĐT không nhận ra.

NĐT không tính được đường dài, tưởng rằng công ty sắp tăng vốn thì phần cổ phiếu tăng đó sẽ làm gia tăng thị giá của cổ phiếu mình đang nắm do có được quyền mua cổ phiếu mới, mà quên rằng sau khi tăng vốn, phần lợi nhuận trên mỗi cổ phần sẽ giảm, có nghĩa là về lâu dài, giá cổ phiếu của công ty đó sẽ giảm”.

Từ đầu buổi đến giờ ông Lê Trọng Nhi chỉ lắng nghe, đến lúc ông Sơn nhắc hai chữ “ngân hàng” ông mới lên tiếng. Cũng dễ hiểu, vì ông Nhi là chuyên gia trong lĩnh vực này:

- Trước tiên, tôi trả lời câu hỏi lúc đầu anh Hữu Nam đặt ra, là vì sao ở nước ta khi VN-Index giảm thì giá CK ngân hàng lại giảm theo. Trong một bài viết trên DNSGCT gần đây, tôi đã đặt câu hỏi: “CK ngân hàng và ngân hàng có gì đặc biệt?”.

Tôi trả lời là ngân hàng đặc biệt chứ CK của ngân hàng không có gì đặc biệt, nhưng riêng ở VN nó lại thành đặc biệt! Tác động của việc VN vào WTO cũng có, nhưng một trong những tác động lớn nhất đến TTCK là việc hàng loạt các ngân hàng tăng vốn qua phát hành CK (cổ phiếu - trái phiếu) mà chưa quan tâm hoặc chưa tính khít khao với những kế hoạch kinh doanh phát triển.

Theo tôi, đến hôm nay, không một ngân hàng nào còn có thể phát hành thêm cổ phiếu với những con số mà NĐT quyết tâm (có chết cũng) phải mua cho được như trong giai đoạn 6-12 tháng trước đây, bởi chẳng còn nhiều NĐT với những khoản vốn “mù” để mua nữa. Cách đây 4-6 tháng thì có thể còn, chứ thời điểm này thì kể như hết hơi rồi - chu kỳ đó qua rồi! NĐT trong nước phải bắt đầu tập sống và làm quen với những con số của thị trường thật”.

Chuyện lũng đoạn trong TTCK. Quản lý FII thế nào? “Cổng thông minh” và nguồn vốn đầu tư trong nước

Tuy có thái độ gay gắt như vậy, nhưng ông Nhi vẫn cho rằng không nên bi quan quá về TTCKVN, vì trong một thị trường còn mới mẻ như nước ta, chuyện lũng đoạn và lệch lạc là đương nhiên.

Cũng như lịch sử phát triển của nhiều thị trường khác trên thế giới, ở đâu cũng có thể có: từ Ủy ban CK, trung tâm giao dịch đến các quỹ đầu tư lớn, NĐT nhỏ lẻ… Trong chừng mực nào đó, chúng ta phải chấp nhận và… chịu đựng được.

Tuy nhiên, ông Nhi không “rộng lượng” như thế với một số quỹ đầu tư nước ngoài:

“Tôi đặc biệt dị ứng với một số quỹ đầu tư nước ngoài. Môi trường chưa chuẩn hóa, còn cho phép sự lũng đoạn như thế, nên họ đã tận dụng để chi phối thị trường. Vấn đề anh Sơn đặt ra: có nên kiểm soát vốn FII hay không, theo tôi là nên có cơ chế quản lý nguồn FII ngay từ thời gian đầu - bây giờ thì hơi trễ.

Có thể thấy kinh nghiệm từ Trung Quốc. Vốn FII vào nước này phải đăng ký, được cấp hạn ngạch, được mua bao nhiêu tiền, tất cả đều được quản lý (kiểm soát) để biết rõ nguồn và kênh. Các NĐT Trung Quốc rất ủng hộ việc làm đó. Còn ở VN, theo tôi mới chỉ có những NĐTNN nhỏ (lớn là so với các NĐT trong nước thôi), chứ chưa có những NĐTNN thực sự lớn.

Ở nhiều thị trường nước ngoài, nếu TTCK có dấu hiệu suy giảm, những NĐT lớn sẽ bơm tiền vào để kìm hãm (như vừa qua, Goldman Sach đã bơm vào một quỹ đầu của chính họ gần 3 tỉ USD khi TTCK Mỹ tụt dốc), ở VN không có, thậm chí còn chưa có cả “quỹ đầu tư lâu dài” cho thị trường”.

Ông Sơn tán thành: “Tôi cũng đồng ý là không nên bi quan về TTCKVN, bởi xét dưới góc độ tổng thể, TTCK của chúng ta đang có những công ty có thực, hoạt động lành mạnh và hiệu quả. Chỉ cần tạo môi trường và cơ hội kinh doanh tốt cho họ phát triển thì việc giá CK lên hay xuống cũng không gây xáo động đáng kể đối với họ.

Nhưng đối với quản lý vĩ mô, không thể để TTCK bị hiệu ứng bong bóng do việc bơm tiền từ hệ thống ngân hàng sang, vì nếu như thế một khi bong bóng CK bị vỡ sẽ ảnh hưởng lập tức đến sự an toàn của hệ thống ngân hàng. Nhiều người cho rằng để cứu vãn TTCK hiện nay, các ngân hàng nên bơm tiền vô, nhưng tôi cho rằng điều đó rất nguy hiểm”.

Đụng đến vấn đề tâm đắc, ông Huy Nam góp lời: “Tôi cũng cho rằng khả năng TTCK phát triển là có, nhưng cần phải có những chính sách điều hành vĩ mô khôn ngoan. Phải dựng được một “cổng thông minh” khi sử dụng ngoại hối. Điều quan trọng không phải chuyện “mở” hay “đóng” với nguồn vốn FII, mà là cần có và sử dụng được nhiều cái đầu, cả trong lẫn ngoài nước, cho việc hoạch định”.

Ông Sơn cười cười, giơ ngón tay cái lên: “Anh nói đúng. Các chính sách cần phải nhất quán và đồng bộ vì lợi ích chung! Không nên có lúc thì đóng chặt, đến khi kêu quá lại mở toang ra. Quan trọng phải khơi được nguồn tiền trong nước, thành lập các quỹ đầu tư trong nước, để quân bình với nguồn vốn FII”.

Ông Hữu Nam bổ sung một ý, rằng trong giai đoạn này các doanh nghiệp nên tập trung cho việc củng cố sản xuất. Sau thời gian huy động vốn rất tốt, giờ đến lúc phải phát huy hiệu quả việc sử dụng vốn. Còn giải pháp cho việc sử dụng vốn FII là không thể quá hạn chế hoặc quá mở đến mức không thể kiểm soát được. Ông Nam đồng quan điểm với ông Nhi, khi cho rằng hạn ngạch là một cách kiểm soát.

Tuy nhiên, ông Sơn khoát tay: “Kinh nghiệm Thái Lan năm 1997 cho thấy rõ điều này. Khi thị trường bất động sản sụp đổ, các NĐTNN rút tiền ra, đồng baht mất giá, Ngân hàng trung ương Thái Lan có một quyết định sai lầm là bán USD (mười mấy tỉ USD) để cứu đồng tiền của họ. Tỷ giá đồng baht cuối cùng vẫn không cứu vãn được, còn Thái Lan thì bị mất toi mười mấy tỉ USD. Vậy đó, một khi xảy ra sự cố, việc xử lý rất khó khăn vì không biết nên cứu cái nào bỏ cái nào”.

Ông Chương cười lớn: “Vậy phải làm sao đừng xảy ra chuyện. Phải phòng bệnh, chứ đổ bệnh ra rồi, mời bác sĩ đến chữa, rủi chữa không hết, bệnh nhân chết thì mình lại trách ổng”.

Ông Sơn gật đầu: “Đúng. Nhưng khi đã xảy ra, vẫn phải xử lý. Còn dĩ nhiên, tạo những định chế để đảm bảo quản lý vĩ mô thật tốt, đáp ứng đúng lợi ích của đất nước mới là điều quan trọng”.

Ông Chương tiếp tục phản biện: “Quản lý tiền tệ không đơn giản là muốn cho NĐTNN vào bao nhiêu thì vào. Nếu mình đã nhập siêu thì cũng phải cho ĐTNN tương ứng, hai con số này phải cân bằng. Quản lý chỉ là tác động vào lúc đầu. Còn phải liên kết với sức khỏe doanh nghiệp, tính cạnh tranh của các công ty, của quốc gia… chứ không thể chỉ kiểm soát NĐTNN, bởi họ không vào cửa này thì cũng sẽ vào cửa khác”.

Nhận định: VN-Index đi xuống có lợi hay gây hại cho nền kinh tế?

Xoáy vào tâm điểm cuộc tọa đàm là “TTCKVN từ nay đến cuối năm”, thay vì “làm khó” buộc mọi người phải đưa ra dự đoán, ông Sơn đặt câu hỏi: “Nếu từ nay đến cuối năm, VN-Index đi xuống thì có lợi hay gây hại cho nền kinh tế?”.

Ông Huy Nam ngẫm nghĩ một lúc rồi trả lời: “Nền kinh tế mình lớn lắm, TTCK mới chỉ có một số công ty niêm yết thôi. Theo tôi, VN-Index xuống không có lợi, dù có ý kiến là VN-Index nên xuống, cho những quý vị đã huy động vốn đầu tư vào sản xuất dừng cái việc lấy tiền chơi trò chơi tài chính. Không có lợi vì chúng ta còn hàng chục ngàn công ty cổ phần khác, nếu mọi người bi quan với TTCK thì không ai bỏ tiền mua CK nữa, rất nguy hiểm.

Xưa, huy động vài tỉ thôi đã khó khăn, chỉ biết trông vào ngân hàng. Thời gian qua thì ngược lại, các công ty niêm yết xong, quá nhiệt tình với TTCK, huy động được vốn rồi bắt đầu chẻ cổ phiếu, lấy thặng dư, ngồi tính giá CK lên xuống, không lo làm ăn nữa. Cũng có thể họ không biết dùng tiền làm gì, hoặc bị áp lực phải lấy tiền đó đổ lại vào TTCK… Còn về lâu dài, đương nhiên TTCK sẽ phát triển”.

Ông Nhi rất đồng tình, cho biết đó là mối quan tâm lớn của ông trong thời gian này và đã giả định:

- Số tiền vốn huy động qua cổ phiếu, lên kế hoạch để quý III mua máy móc mới, quý IV làm được hàng xuất khẩu… Nhưng không! Người ta đã đem phần lớn số vốn đó đầu tư vô đất, mua CK rồi, thậm chí thế chấp số CK đó và vay thêm để mua tiếp, bây giờ thị trường như thế này và có khả năng kéo dài đến cuối năm, thế là bể kế hoạch sản xuất. Ngược lại, có công ty sau khi phát hành cổ phiếu cầm trong tay cả ngàn tỉ đồng chưa biết làm gì hết, hỏi tôi: “Cầm 500 tỉ đồng nhàn rỗi của chúng tôi xem có chỗ nào đẻ ra tiền giùm đi”.

Dường như muốn “né” một con số cụ thể, ông Hữu Nam đưa ra ý kiến rất khéo: “VN-Index lên hay xuống chỉ là hệ quả. Để hệ quả tốt, những chính sách kinh tế vĩ mô phải thúc đẩy nền sản xuất trong nước, tạo thật nhiều hàng hóa, tăng cường xuất khẩu, hấp thu toàn bộ vốn đầu tư. Điều quan trọng là làm sao để chỉ số đi lên một cách lành mạnh. Tôi không mong VN-Index đi xuống chỉ để răn đe ai cả, bởi NĐT đã sợ lắm rồi...”.

Ông Bích tán đồng, cho đó mới là một sự phát triển bền vững, còn ông Sơn nói rõ là các công ty cần tạo ra cho mình những thay đổi, những sáng tạo, những khác biệt, giống như tạo ra những đại dương xanh cho các sản phẩm của mình… Như thế TTCK mới phát triển bền vững được trong lâu dài.

Ông Chương lên tiếng: “Trong ngắn hạn, có lên thì phải xuống, vấn đề là mức độ thôi. Nước nào cũng vậy, TTCK thể hiện giá trị tiềm năng của nền kinh tế. Mà giá trị của một nền kinh tế, định nghĩa gì thì định nghĩa, cơ bản cũng chỉ là thế này: Sáng này, bao nhiêu người trong nước đó ngủ dậy làm cái gì, làm bao nhiêu và có giá trị như thế nào. Chấm hết.

Ở nước mình, vẫn còn một số người ngủ dậy, giữ hết xe cộ trong nhà không cho ai đi hết, chỉ ngồi mà không làm gì. Các đầu mối kinh tế, các doanh nghiệp không làm gì để tăng hiệu suất của mình, phần lớn người dân trong nước không làm gì để có giá trị cụ thể đóng góp cho xã hội, đó là vấn đề lớn! Đừng quy hết vấn đề cho Nhà nước. Phải xem động cơ thúc đẩy là cái gì, bởi nếu động cơ trật thì hành vi trật”.

Sau khi nghe hết phân tích chuyện “lợi, hại” của người khác, ông Sơn mới đưa ra luận điểm: “Đứng trên góc độ là NĐT trong nước, tôi cảm giác TTCK đang vượt khỏi tầm tay. Bảo tôi ra mua một CK, rất… ngán vì P/E (giá trên thu nhập) quá cao. Đứng trên góc độ là một công ty sắp sửa phát hành cổ phiếu lần đầu (IPO), nếu định giá dưới 3.0 (gấp ba lần mệnh giá) thì vô lý, coi chừng còn bị đặt vấn đề gian dối (nếu là công ty nhà nước), nhưng nếu định giá 5.0-6.0 thì không biết có NĐTNN nào nhảy vô không, chứ cán bộ công nhân viên và NĐT trong nước không mua nổi.

Một thị trường đang vượt quá năng lực tài chính, năng lực đầu tư của NĐT trong nước. Ai mua CK lúc này là họ đang “đầu cơ”, thấy lời bán ngay, lỗ là cắt, chứ không phải mua để đầu tư. Nếu chúng ta để cho TTCK chỉ nằm trong tầm hoạt động của các nhà đầu cơ, thì các doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng không có lợi. Hãy để cho giá CK trở về với mức bình thường đã rồi sẽ từ từ đi lên, như thế TTCK sẽ hấp dẫn các NĐT hơn”.

Khi đưa ra con số dự báo cụ thể, ông Huy Nam cho biết: “Theo phân tích những yếu tố cơ bản, giá cổ phiếu thời điểm này là hợp lý, thậm chí khá hấp dẫn, các biểu hiện mua vào của các NĐT cho thấy điều đó. Theo tôi, đến thời điểm cuối năm, ngưỡng VN-Index 1.000 điểm là dễ xảy ra. Tôi không nghĩ VN-Index sẽ xuống sâu, cũng chưa có dấu hiệu cho thấy sẽ tăng đột biến”.

Người mở đầu, ông Hữu Nam, tiếp tục được mọi người “bắt ép” đưa ra dự báo trước khi khép lại buổi tọa đàm. Vẫn điệp khúc “dự báo là việc rất khó”, nhưng ông cũng “bật mí” rằng trước khi tham dự tọa đàm, ông đã cùng với với phòng đầu tư của công ty mình xem lại các dự báo, diễn biến kinh tế sắp tới, và “nghĩ rằng vào cuối năm nay VN-Index từ 950 đến 1.200 điểm”.

Nhà đầu tư cần biết (5-9)

2,5 triệu cổ phiếu niêm yết và giao dịch bổ sung Công ty Cổ phần Nam Việt (NAV) sẽ được chính thức giao dịch ngày 7-9-2007 tại Sở GDCK TP.HCM.

* 6 triệu cổ phiếu niêm yết bổ sung của Công ty Cổ phần Thủy hải sản Minh Phú (mã MPC) sẽ được chính thức giao dịch vào ngày 7-9-2007 tại Sở GDCK TP.HCM.

* 13-9 là ngày đăng ký cuối cùng để Công ty Cổ phần Sách giáo dục tại TP.Hà Nội (mã EBS-HASTC) trả cổ tức đợt 1-2007 bằng tiền theo tỷ lệ 5% và họp đại hội cổ đông bất thường.

* Công ty Cổ phần Chứng khoán Chợ Lớn được chấp thuận tăng vốn điều lệ và thay đổi Bản điều lệ từ mức cũ 30 tỉ đồng lên mức mới 90 tỉ đồng.

* Ngày 5-9 là ngày giao dịch không hưởng cổ tức đợt 1-2007 của công ty Công ty cổ phần Đồ hộp Hạ Long (mã: CAN). Theo đó, ngày đăng cuối cùng là ngày 7-9, ngày thanh toán cổ tức dự kiến vào ngày 24-9 với tỷ lệ chi trả 5%.

* Công ty cổ phần dược phẩm Imexpharm (mã chứng khoán IMP) công bố thông tin về việc cổ đông lớn là J.P.Morgan Whitefriars INC đã mua thành công 66.470 cổ phiếu. Sau khi thực hiên giao dịch, J.P.Morgan Whitefriars INC còn nắm giữ 518.930 cổ phiếu IMP (tương đương 5,62% vốn cổ phần).

* Công ty Cổ phần Văn hóa Tân Bình (mã chứng khoán ALT) vừa hoàn thành việc bán 930.190 cổ phiếu với tổng số tiền thu được hơn 69 tỉ đồng. Trong đó, bán 66.735 cổ phiếu cho cán bộ công nhân viên chủ chốt của công ty, 863.455 cổ phiếu cho nhà đầu tư chiến lược và 1.534.905 cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu. Công ty dự kiến chi trả cổ tức 6 tháng đầu năm 2007 với tỷ lệ 8%.

* UBCKNN vừa cấp Giấy chứng nhận chào bán 3.500.000 cổ phiếu ra công chúng cho Công Ty Cổ Phần Xây Lắp Bưu Điện Hà Nội (mã: HAS). Trong đó, giai đoạn 1, HAS chào bán cho cổ đông hiện hữu số lượng 1.750.000 cổ phiếu; 250.000 cổ phiếu chào bán cho cán bộ công nhân viên và đối tác tiềm năng. Trong giai đoạn 2, Công ty phát hành 1.500.000 cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu.

Ngày 5/9, nhà đầu tư nước ngoài mua vào trên 2,1 triệu đơn vị cổ phiếu

Phiên hôm nay (5-9), giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng mạnh khi có hơn 2,1 triệu cổ phiếu được mua vào, với giá trị tương đương 187.327 tỉ đồng (chiếm 28,52% giao dịch toàn thị trường).

Số mã chứng khoán nhà đầu tư nước ngoài mua vào là 36 với tổng khối lượng 580.790 đơn vị, tổng giá trị tương ứng 74.129 tỉ đồng (chiếm 11,29% giao dịch toàn thị trường). Bên cạnh đó, nhà đầu tư nước ngoài còn giao dịch thỏa thuận cùng khối 600.000 cổ phiếu REE, đồng thời mua vào 29.000 chứng chỉ quỹ VFMVF1; 21.000 cổ phiếu TMS và 20.000 cổ phiếu ABT.

Trên sàn Hà Nội, nhà đầu tư nước ngoài mua vào 18 mã cổ phiếu với tổng khối lượng 139.500 đơn vị với giá trị 17.222 tỉ đồng; bán ra 5 mã cổ phiếu với tổng khối lượng là 31.900 đơn vị, giá trị 993 tỉ đồng.

25.9: Đấu giá 2 triệu cổ phần Cty KD bao bì lương thực

Tin từ Sở GDCK TPHCM cho biết, ngày 25.9 tới sẽ tổ chức bán đấu giá 2.149.200 cổ phần của Cty Kinh doanh bao bì lương thực. Mức giá khởi điểm được xác định là 10.010đ/CP.

Thời gian đăng ký đấu giá và nộp và tiền đặt cọc từ: 4.9 đến 17.9.2007 tại các đại lý đấu giá là các Cty CK thành viên. Với mức vốn điều lệ 31 tỉ đồng, Cty chuyên mua bán nguyên vật liệu từ nguồn trong nước và NK để sản xuất bao bì, chế biến, XNK các mặt hàng lương thực...

Bùng nổ với hiệu ứng... nghỉ lễ!

Phiên giao dịch đầu tiên của tháng 9 mở màn với lượng NĐT đến một số sàn tại HN khá vắng vẻ - có lẽ do trời mưa to - nhưng không khí hồ hởi vẫn lan toả khi gần như đồng loạt các mã CP đều quay đầu tăng giá. VN-Index mở cửa được xác định mức 919,87 điểm, tăng 11,5 điểm: "Hiệu ứng nghỉ lễ" đã tái diễn.

Blue-chips trở lại

Đáng chú ý nhất và tạo "cảm hứng" cho thị trường trong phiên mở cửa là CP "điện" PPC khi nằm trong số hiếm hoi tăng kịch trần. Đây là phiên tăng giá thứ hai liên tục của "đại gia" có giá trị vốn hoá nằm trong nhóm lớn nhất thị trường sau hơn 2 tháng sụt giảm mạnh từ mức xấp xỉ 68.000đ/CP xuống gần 50.000đ/CP.

Xu hướng phục hồi của PPC thực tế bắt đầu từ giữa tháng 8 (17.8) nhưng chỉ thực sự mạnh vào ngày 31.8 với việc thiết lập đỉnh cao nhất (new high) tương đương 55.500đ trong vòng một tháng gần đây, đồng thời khối lượng khớp lệnh tăng vọt (598.800 CP) đạt kỷ lục từ tháng 5.2007.

Dưới góc độ phân tích kỹ thuật, đây là tín hiệu củng cố của một xu hướng tăng. Đặc biệt với phiên ngày 31.8, quy mô lệnh mua của PPC đạt khối lượng cực lớn: 4373 CP/lệnh trong khi quy mô bán khoảng 1437 CP/lệnh.

Với các tín hiệu tăng giá rõ ràng, lượng cung PPC trong phiên đầu tháng 9 đã được tiết giảm mạnh, chỉ bằng 1/5 phiên trước đó: Tổng mua vào đạt 439.140 CP trong khi tổng bán ra chỉ có 126.970.

Chênh lệch cung cầu cũng như quy mô lệnh quá lớn khiến gần như toàn bộ cung PPC được khớp hết trong đợt giao dịch mở cửa (xấp xỉ 64% tổng giao dịch) và chỉ còn đúng 1.460 CP được khớp đợt đóng cửa, không còn dư bán.

Đồng hành cùng PPC là sự trở lại của REE. Thiếu sức đẩy của nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) do hết room, REE không có tốc độ bứt phá nhanh ngay từ phiên khớp lệnh mở cửa (PPC ngày 31.8 được NĐTNN mua vào tới 530,100 CP).

Tuy nhiên, REE cũng xác lập ngay giá khớp dự kiến tăng 1.000đ/CP trong phần lớn thời gian và đạt giá mở cửa thực tế với mức 134.000đ/CP (+2.000đ/CP). Càng về cuối phiên, tâm lý lạc quan của NĐT càng lớn khiến giá REE được đẩy lên cao và thiết lập mức giá cao nhất 137.000đ/CP và giữ vững trong đợt khớp lệnh đóng cửa. Như vậy REE đã vượt mức giá đỉnh được tạo thành ngày 9.8 vừa qua với khối lượng 267.610 đơn vị, mức chuyển nhượng cao nhất trong 26 phiên giao dịch.

Việc tăng giá của một số CP chủ chốt đã tạo tâm lý lan toả sang một số mã khác, điển hình như KDC, ITA trong suốt thời gian khớp lệnh mở cửa đều dự kiến giảm giá nhưng kết thúc vẫn giữ được mức tham chiếu. KDC thậm chí còn tăng chung cuộc 6.000đ/CP.

FPT cũng tương tự với mức mở cửa không thay đổi (225.000đ/CP) nhưng đợt khớp lệnh liên tục và đóng cửa xác lập được giá cao nhất 229.000đ/CP. Hai CP "trì trệ" nhất là STB và VNM cũng có diễn biến đảo chiều tăng giá khi bước vào khớp lệnh liên tục. Kết thúc phiên STB tăng 1.500đ/CP và VNM tăng 4.000đ/CP.

"Mùa vàng" tháng 9?

"Hiệu ứng nghỉ lễ" đã từng được chứng minh vài lần trong quá khứ mà gần đây nhất là chu kỳ tăng trưởng khá ngoạn mục sau kỳ nghỉ 30.4. VN-Index từ đáy 905 điểm đã tăng lên đến trên 1.113 điểm. Trước đó, "chu kỳ tháng 9" cũng có diễn biến tương tự trong năm 2006 với tốc độ phục hồi rất lạc quan sau đợt suy giảm kéo dài từ cuối tháng 4. Liệu lịch sử có lặp lại?

Phiên giao dịch bùng nổ ngày 4.9 có tác động từ nhiều yếu tố, trong đó đáng kể nhất phải là những báo cáo đầy lạc quan của Citibank và HSBC được tung ra. Những lo lắng về nền kinh tế vĩ mô được Citi nhìn nhận rất tích cực và đánh giá cao động thái của Chính phủ trong việc kiểm soát lạm phát, tăng giá.

HSBC thì có cái nhìn thực tế hơn và "khuyên" trực tiếp: Đã đến lúc mua vào. Bản thân lo lắng của HSBC trước đó về rủi ro pha loãng CP khi các DN phát hành thêm đã được giảm bớt khi thừa nhận tốc độ tăng trưởng lợi nhuận rất cao có thể bù đắp lại.

Thực tế kết quả kinh doanh của các DN làm ăn tốt vừa qua đều cho thấy có mức kỳ vọng lợi nhuận vượt xa kế hoạch. Thời điểm tháng 9 sẽ là lúc thông tin về kết quả kinh doanh quý III được công bố, đem lại cái nhìn đầy đủ hơn về năng lực hoạt động của DN và khả năng ước đoán mức độ hoàn thành kế hoạch cả năm.

Từ góc độ phân tích kỹ thuật, hầu hết các blue-chips - CP có tác động mạnh đến VN-Index - đang phát tín hiệu đáng quan tâm để mua vào. Một số mã còn thoát khỏi mô hình đi xuống và phá vỡ mức giá kháng cự của kênh xu hướng giảm hình thành từ đầu tháng 6 đến nay.

Với các NĐT theo trường phái phân tích này, đây là thời điểm mua vào. Theo số liệu thống kê từ CTCK VCBS, các thông số giao dịch cũng cho thấy tâm lý lạc quan đang lan rộng, khác hẳn chu kỳ ảm đạm tháng 8: Tổng cung thị trường ngày 4.9 đã giảm 20% chỉ còn 9,22 triệu CK trong khi tổng cầu đạt 13,8 triệu CK, chỉ giảm chưa đầy 2%.

Quy mô lệnh bán ra trung bình thị trường chỉ bằng 1/3 quy mô lệnh mua vào. Khối lượng khớp lệnh giảm hơn 9% do giao dịch giảm mạnh chủ yếu với các blue-chips tăng giá như FPT, REE, STB, PPC... NĐTNN vẫn giữ nhịp độ mua vào với gần 1,5 triệu CK được chuyển nhượng trong khi bán ra khoảng 790.000 CK.

Hấp dẫn cổ phiếu hết "room"

Thông báo thay đổi tỉ lệ sở hữu của NĐTNN đối với AGF từ mức 49% xuống còn 45% sau đợt phát hành thêm 4,9 triệu CP đã khiến cho NĐTNN có cơ hội tiếp tục mua vào CP này, khối lượng AGF được mua trong mỗi phiên giao dịch chiếm khoảng 50% - 80% tổng khối lượng giao dịch của AGF.

Tương tự với AGF là SAM, sau khi thông tin về tỉ lệ nắm giữ của NĐTNN giảm xuống do SAM phát hành tăng vốn điều lệ lên thành 545 tỉ đồng thì NĐTNN lại ào ạt mua vào. Gần đây nhất là sự kiện STB với việc nhầm lẫn về room cho NĐTNN thành 49%. Tại sao NĐTNN lại tranh nhau mua vào những CP này trong khi mà một số chỉ số tài chính như PE của các Cty vẫn đang giữ ở mức khá cao?

Giá cao vẫn đắt khách?

Đây là những CP có ngành nghề hấp dẫn. Đa phần các CP được NĐTNN mua hết room đều thuộc những ngành có tốc độ tăng trưởng cao như ngành ngân hàng (tăng trưởng từ 40 - 45%/năm), thuỷ sản (tăng trưởng khoảng 30%/năm), BĐS, cảng biển, xây dựng cơ sở hạ tầng, viễn thông... Đây là những ngành quan trọng của nền kinh tế và đang có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển.

Đối với lĩnh vực NH, nền kinh tế phát triển thì nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, nhu cầu sử dụng các dịch vụ tiện ích của NH ngày càng gia tăng. NH được coi như mạch máu của nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đất nước.

Thuỷ sản nhận được những sự ưu đãi từ đường bờ biển dài cùng các chính sách hỗ trợ của Chính phủ về phát triển ngành thuỷ sản, thêm vào đó, thuận lợi từ việc gia nhập WTO giúp hàng thuỷ sản của VN mở rộng thị phần và tăng khả năng cạnh tranh. Các lĩnh vực BĐS, cảng biển cũng đang đứng trước những cơ hội lớn cho sự phát triển...

Mặc dù chỉ số P/E đối với những CP này là khá cao, khoảng 30 - 40 lần nhưng với tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 30 - 40% thì các NĐT có thể chấp nhận mua vào với mức P/E cho CP bằng tốc độ tăng trưởng G.

Theo phương pháp định giá dựa vào tỉ số PEG thì mức PEG chấp nhận chung cho các CP là bằng 1. CP có PEG >1 thì được định giá cao, PEG<1 peg =" 1" pe =" G.">

Cơ hội cho vốn "nội"

Giá giảm xuống khá sâu và đang ở một mức giá hợp lý. Trong giai đoạn thị trường điều chỉnh giảm, mức độ mất giá của những cố phiếu này là khá lớn. Tính tới thời điểm trước kỳ nghỉ 2.9, BT6 mất 30%, GMD mất 42%, REE mất 32%, STB mất gần 50%... giá trị so với thời điểm giá cao nhất của mình.

Lượng cung bán ra trong thời điểm thị trường đi xuống tăng mạnh trong khi lượng cầu từ các NĐT trong nước rất yếu. Giá giảm sâu cùng khối lượng giao dịch không lớn. Điều này cho thấy, lượng cung giá thấp dường như không còn nhiều. Khi những CP này đã tích lũy đủ về giá và khối lượng thì chỉ cần một lượng cầu lớn mua vào cũng sẽ có thể vét hết lượng cung giá thấp và đẩy giá CP tăng mạnh.

Lượng cầu tiềm năng từ phía các NĐTNN. Thực tế diễn biến trên bảng giá có thể nhận thấy, thỉnh thoảng khối lượng đặt mua những CP hết room như REE, GMD,... bất ngờ tăng vọt với khối lượng rất lớn ngay từ đầu một đợt giao dịch.

"Phép thử" STB đã cho thấy sức cầu thường trực của NĐTNN lớn thế nào và mối quan tâm tới những CP chủ chốt vẫn không hề suy giảm.

Hiện tại, thông tin về khả năng mở room vẫn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, hiện Bộ Kế hoạch-Đầu tư đang xây dựng Nghị định liên quan đến việc thực hiện cam kết đàm phám WTO trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài. Như vậy các danh mục đầu tư hạn chế hay ưu đãi sẽ rõ ràng hơn.

Khi rào cản giới hạn sở hữu được mở rộng, nhiều DN niêm yết sẽ nằm trong "tầm ngắm" của NĐTNN và khả năng diễn ra các giao dịch thâu tóm sẽ diễn ra. Thực tế hoạt động này rất phổ biến trên thế giới và vốn cổ đông sẽ tiếp tục được sinh lợi chứ không thuần túy là phá sản hay đổi chủ một DN.

Khi thời điểm cam kết cho việc mở room đối với NĐTNN đang đến gần, chắc chắn đây sẽ là một nguồn cầu lớn, hỗ trợ cho sự tăng giá của các CP đã cạn room và cơ hội trước hết thuộc về NĐT trong nước.

LGC chốt ngày phát hành thêm CP!

Cty Cơ khí - Điện Lữ Gia (mã CK: LGC) thông báo ngày giao dịch không hưởng quyền mua CP phát hành thêm sẽ là 12.9, ngày đăng ký cuối cùng là 14.9. Cụ thể, LGC sẽ phát hành thêm 2 triệu CP, trong đó 1 triệu CP phát hành cho cổ đông với tỉ lệ 1:1 theo mệnh giá. 500.000 CP được bán thêm cho cổ đông theo tỉ lệ 2:1 với giá 32.000đ/CP.
500.000 CP còn lại được bán cho đối tác chiến lược với cam kết hạn chế chuyển nhượng 50% số lượng nắm giữ ít nhất trong vòng 6 tháng. Thời gian đăng ký và nộp tiền mua là từ 28.9-1.11.2007. Ngày dự kiến giao dịch là 4.12.2007.

Hấp dẫn cổ phiếu hết "room"

Thông báo thay đổi tỉ lệ sở hữu của NĐTNN đối với AGF từ mức 49% xuống còn 45% sau đợt phát hành thêm 4,9 triệu CP đã khiến cho NĐTNN có cơ hội tiếp tục mua vào CP này, khối lượng AGF được mua trong mỗi phiên giao dịch chiếm khoảng 50% - 80% tổng khối lượng giao dịch của AGF.
Tương tự với AGF là SAM, sau khi thông tin về tỉ lệ nắm giữ của NĐTNN giảm xuống do SAM phát hành tăng vốn điều lệ lên thành 545 tỉ đồng thì NĐTNN lại ào ạt mua vào. Gần đây nhất là sự kiện STB với việc nhầm lẫn về room cho NĐTNN thành 49%. Tại sao NĐTNN lại tranh nhau mua vào những CP này trong khi mà một số chỉ số tài chính như PE của các Cty vẫn đang giữ ở mức khá cao?

Giá cao vẫn đắt khách?

Đây là những CP có ngành nghề hấp dẫn. Đa phần các CP được NĐTNN mua hết room đều thuộc những ngành có tốc độ tăng trưởng cao như ngành ngân hàng (tăng trưởng từ 40 - 45%/năm), thuỷ sản (tăng trưởng khoảng 30%/năm), BĐS, cảng biển, xây dựng cơ sở hạ tầng, viễn thông... Đây là những ngành quan trọng của nền kinh tế và đang có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển.

Đối với lĩnh vực NH, nền kinh tế phát triển thì nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, nhu cầu sử dụng các dịch vụ tiện ích của NH ngày càng gia tăng. NH được coi như mạch máu của nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đất nước.

Thuỷ sản nhận được những sự ưu đãi từ đường bờ biển dài cùng các chính sách hỗ trợ của Chính phủ về phát triển ngành thuỷ sản, thêm vào đó, thuận lợi từ việc gia nhập WTO giúp hàng thuỷ sản của VN mở rộng thị phần và tăng khả năng cạnh tranh. Các lĩnh vực BĐS, cảng biển cũng đang đứng trước những cơ hội lớn cho sự phát triển...

Mặc dù chỉ số P/E đối với những CP này là khá cao, khoảng 30 - 40 lần nhưng với tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 30 - 40% thì các NĐT có thể chấp nhận mua vào với mức P/E cho CP bằng tốc độ tăng trưởng G.

Theo phương pháp định giá dựa vào tỉ số PEG thì mức PEG chấp nhận chung cho các CP là bằng 1. CP có PEG >1 thì được định giá cao, PEG<1 là có thể xem xét đầu tư. Như vậy, với PEG = 1 thì PE = G. G của những CP này đạt được là từ 30 - 40%/năm nên mức PE có thể chấp nhận để mua vào là từ 30 - 40 lần. Đây là nguyên nhân cho thấy, các CP có PE cao chưa hẳn đã đắt vì tốc độ tăng giá có thể được bù đắp lại bằng sự tăng trưởng nhanh về lợi nhuận của Cty.

Cơ hội cho vốn "nội"

Giá giảm xuống khá sâu và đang ở một mức giá hợp lý. Trong giai đoạn thị trường điều chỉnh giảm, mức độ mất giá của những cố phiếu này là khá lớn. Tính tới thời điểm trước kỳ nghỉ 2.9, BT6 mất 30%, GMD mất 42%, REE mất 32%, STB mất gần 50%... giá trị so với thời điểm giá cao nhất của mình.

Lượng cung bán ra trong thời điểm thị trường đi xuống tăng mạnh trong khi lượng cầu từ các NĐT trong nước rất yếu. Giá giảm sâu cùng khối lượng giao dịch không lớn. Điều này cho thấy, lượng cung giá thấp dường như không còn nhiều. Khi những CP này đã tích lũy đủ về giá và khối lượng thì chỉ cần một lượng cầu lớn mua vào cũng sẽ có thể vét hết lượng cung giá thấp và đẩy giá CP tăng mạnh.

Lượng cầu tiềm năng từ phía các NĐTNN. Thực tế diễn biến trên bảng giá có thể nhận thấy, thỉnh thoảng khối lượng đặt mua những CP hết room như REE, GMD,... bất ngờ tăng vọt với khối lượng rất lớn ngay từ đầu một đợt giao dịch.

"Phép thử" STB đã cho thấy sức cầu thường trực của NĐTNN lớn thế nào và mối quan tâm tới những CP chủ chốt vẫn không hề suy giảm.

Hiện tại, thông tin về khả năng mở room vẫn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, hiện Bộ Kế hoạch-Đầu tư đang xây dựng Nghị định liên quan đến việc thực hiện cam kết đàm phám WTO trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài. Như vậy các danh mục đầu tư hạn chế hay ưu đãi sẽ rõ ràng hơn.

Khi rào cản giới hạn sở hữu được mở rộng, nhiều DN niêm yết sẽ nằm trong "tầm ngắm" của NĐTNN và khả năng diễn ra các giao dịch thâu tóm sẽ diễn ra. Thực tế hoạt động này rất phổ biến trên thế giới và vốn cổ đông sẽ tiếp tục được sinh lợi chứ không thuần túy là phá sản hay đổi chủ một DN.

Khi thời điểm cam kết cho việc mở room đối với NĐTNN đang đến gần, chắc chắn đây sẽ là một nguồn cầu lớn, hỗ trợ cho sự tăng giá của các CP đã cạn room và cơ hội trước hết thuộc về NĐT trong nước.

Thu hồi hơn 28 tỷ đồng của Vinamilk

Theo một nguồn tin từ Thanh tra Chính phủ, cơ quan này đã ra quyết định thu hồi số tiền 28,8 tỷ đồng sai phạm của Công ty cổ phần sữa Vinamilk vào tài khoản tạm giữ chờ xử lý.
Đồng thời, Thanh tra Chính phủ cũng kiến nghị Thủ tướng giao Bộ Tài chính thu hồi 11,8 tỷ đồng khoản tiền gốc và lãi phải nộp khi thực hiện cổ phần hóa mà Vinamilk chưa nộp về Quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước.

Trước đó, ngày 5/1/2005, Bộ Tài chính chấp thuận cho Vinamilk bán 15% vốn điều lệ thuộc sở hữu Nhà nước, trong đó bán cho người lao động trong công ty là 4,8% với giá bán là giá đấu giá thành công bình quân.

Theo kết quả đấu giá thì giá thành công bình quân là 313.100 đồng/CP. Ngày 21/2/2005, Vinamilk có công văn đề nghị Bộ Tài chính và được Bộ chấp thuận cho người lao động của công ty mua số cổ phần theo giá trúng thầu tối thiểu là 266.100 đồng/CP.

Việc làm này được xác định là đã gây thất thu của Nhà nước khoản tiền 35,9 tỷ đồng.

ILC phát hành thêm gần 3 triệu cổ phiếu

Công ty cổ phần Hợp tác Lao động với nước ngoài (mã chứng khoán ILC) vừa cho biết, Công ty sẽ phát hành thêm 2.907.093 cổ phiếu.
Theo phương án, 1.707.093 cổ phiếu được phát hành cho các cổ đông hiện hữu với giá 15.000 đồng/CP theo tỷ lệ 10:15 (cổ đông sở hữu 10 cổ phiếu cũ được sẽ được mua 15 cổ phiếu mới); đấu giá ra công chúng 600.000 cổ phiếu với giá khởi điểm bằng 80% giá bình quân ngày giao dịch không hưởng quyền và phát hành cho các cổ đông chiến lược 600.000 cổ phiếu với giá bằng 80% giá đấu bình quân.

Theo dự kiến, ngày 30/9 tới đây, Công ty sẽ tiến hành lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản về việc điều chỉnh tỷ lệ chi trả cổ tức và kế hoạch góp vốn thành lập các công ty mới. Cụ thể, Công ty sẽ thay đổi tỷ lệ chi trả cổ tức cho các cổ đông năm 2007 từ 15% lên 22%. Ngoài ra, Công ty sẽ thành lập Công ty kinh doanh bất động sản Inlaco, trong đó Công ty sở hữu 51% vốn điều lệ của Công ty Inlaco, góp vốn vào Công ty TNHH Kinh doanh dịch vụ Hàng hải với tỷ lệ góp là 25% vốn điều lệ (tương ứng là 250 triệu đồng)...

Nhà Đầu tư nước ngoài mua vào gần 1,5 triệu cổ phiếu hôm 4/9

Lượng cổ phiếu và chứng chỉ quỹ mua vào của các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) trên sàn TPHCM trong phiên giao dịch hôm 4/9 vẫn được duy trì ở mức khá cao, gần 1,5 triệu đơn vị và gấp gần 1,9 lần lượng bán ra.
Cụ thể họ mua vào 58 mã cổ phiếu và 2 chứng chỉ quỹ với 1.488.170 đơn vị (trị giá 146,8 tỷ đồng). Trong khi đó, lượng bán ra giảm rất mạnh với tổng cộng 789.560 đơn vị (trị giá 87,9 tỷ đồng).
Các cổ phiếu được mua nhiều nhất bao gồm: VNM (174.780 cổ phiếu), VIP (103.800 cổ phiếu), FPT (82.330 cổ phiếu), DMC (75.000 cổ phiếu), PVD (68.910 cổ phiếu), BBC (66.460 cổ phiếu), VSH (51.750 cổ phiếu), ITA (49.430 cổ phiếu).
Họ cũng mua vào 265.900 chứng chỉ quỹ VF1 và 103.800 BF1.Các cổ phiếu được bán nhiều nhất bao gồm: BBC (148.230 cổ phiếu), VNM (125.810 cổ phiếu), GIL (99.000 cổ phiếu), FPT (63.850cổ phiếu), VIP (57.570 cổ phiếu), TNC (37.250 cổ phiếu), KDC (35.440 cổ phiếu), KHP (32.210 cổ phiếu), TRC (23.860 cổ phiếu), GTA (20.000 cổ phiếu).
Trên sàn Hà Nội, các nhà ĐTNN tăng mạnh lượng mua vào. Cụ thể, họ mua vào 11 mã cổ phiếu với tổng cộng 114.300 đơn vị (trị giá hơn 14,9 tỷ đồng) và bán ra 6 mã cổ phiếu, tổng cộng 139.000 đơn vị (trị giá 3,9 tỷ đồng).
Các cổ phiếu được mua vào bao gồm: NTP (54.400 cổ phiếu), SSI (50.600 cổ phiếu), BMI (3.000 cổ phiếu), VTL (2.000 cổ phiếu).
Các cổ phiếu được bán ra bao gồm: TBC (135.000 cổ phiếu), ICF (1.400 cổ phiếu), BMI (1.000 cổ phiếu), HPC (1.000 cổ phiếu).

Nhiều công ty chứng khoán sống cầm hơi

Để duy trì hoạt động trong một tháng, công ty chứng khoán cần tối thiểu 500 triệu đồng. Tuy nhiên gần đây, nhiều thành viên sàn TP HCM chỉ thu được 200.000 đồng/tháng từ phí giao dịch của khách hàng.
Giám đốc một công ty chứng khoán tiết lộ, theo bảng thống kê hoạt động môi giới hằng tháng từ các thành viên của Sở giao dịch chứng khoán TP HCM (HOSE), chỉ khoảng 20 trên tổng số hơn 50 công ty thành viên có lãi hoặc huề vốn. Số còn lại lỗ từ nhẹ đến nặng, thậm chí có đơn vị chỉ thu được 4 triệu đồng phí giao dịch trong suốt một tháng ròng.
Trong khoản tiền ít ỏi ấy, nhiều sàn còn trích lại để hậu đãi "thượng đế" bằng kẹo, bánh, cafe và phát miễn phí bản tin thị trường. Đó là chưa kể trong giai đoạn đầu khớp lệnh liên tục, nhiều công ty còn thông báo kết quả đặt lệnh miễn phí cho khách bằng tin nhắn SMS. Họ cũng phải chiết khấu 0,05% từ số tiền thu được để trả phí cho Sở giao dịch theo quy định.
"Nhìn bảng thống kê của HOSE trong 4 tháng qua, dễ thấy rằng, kinh doanh chứng khoán lúc này không dễ đẻ trứng vàng", đại diện Công ty chứng khoán Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long bình luận.
Hiện nay ngoài môi giới, các công ty chứng khoán còn hoạt động trên các lĩnh vực khác như tự doanh, tư vấn đầu tư, bảo lãnh phát hành... Song theo ông Huỳnh Anh Tuấn, giám đốc Công ty chứng khoán Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACBS) chi nhánh Nguyễn Thị Minh Khai, những công ty chứng khoán vừa và nhỏ hiện nay chủ yếu hoạt động trên hai nghiệp vụ chính là tự doanh và môi giới.
Vào lúc đỉnh cao của thị trường, phần lãi từ hoạt động tự doanh thường cao hơn gấp nhiều lần so với mảng môi giới và trở thành nguồn thu chính. Tưởng dễ đẻ trứng vàng, nhiều đơn vị ùn ùn xin thành lập công ty chứng khoán ngay lúc thị trường đỉnh cao. Nhiều công ty, thậm chí lập ra chỉ để mua bán cổ phiếu, hay tranh mua bán với khách.
Tuy nhiên, thị trường điều chỉnh 4 tháng qua mà vẫn chưa có dấu hiệu tăng trở lại, cổ phiếu rớt giá, những công ty chứng khoán mạnh về vốn phải xoay sang mua dần cổ phiếu để quân bình giá. Những công ty nhỏ, để kiếm đủ chi phí hoạt động, đã phải nghĩ đến phương án gửi tiền ngân hàng để bảo toàn vốn.
Tổng giám đốc một công ty chứng khoán trực thuộc ngân hàng nhận định, với lãi suất tiết kiệm 1% như hiện nay, công ty có vốn điều lệ khoảng 50 tỷ đồng cũng có thể gửi tiền vào nhà băng để kiếm khoản lãi hằng tháng khoảng 500 triệu đồng.
Không chỉ những công ty mới thành lập, nhiều đơn vị đã hoạt động lâu song tự doanh không hiệu quả cũng tính đến phương án gửi tiết kiệm hoặc mua trái phiếu để bảo toàn vốn và kiếm tiền trang trải chi phí hoạt động.
Giám đốc ACBS chi nhánh Nguyễn Thị Minh Khai cho rằng, nếu Vn-Index cứ xoay quanh ngưỡng 900 điểm như hiện nay thì chỉ khoảng một tháng nữa nhiều công ty chứng khoán sẽ không cầm cự nổi.
Theo ông Tuấn đây chính là thời điểm thử lửa cho các công ty chứng khoán. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện nay, việc các công ty chứng khoán "đến rồi đi" không phải là chuyện hiếm. Ông lấy ví dụ ở 2 thị trường láng giềng Việt Nam, khi chứng khoán mới phát triển, Trung Quốc với Thái Lan lần lượt có tới 1.000 và 400 công ty chứng khoán. Tuy nhiên, sau nhiều biến cố, đến giờ chỉ có 100 đơn vị còn trụ lại ở Trung Quốc và 40 công ty hoạt động ở Thái Lan.
Hiện tại Ủy ban chứng khoán Nhà nước vẫn còn nhiều hồ sơ xếp hàng chờ cấp phép. Nếu Ủy ban chấp thuận, đến cuối năm nay, Việt Nam sẽ có 100 công ty chứng khoán. Trong khi hiện nay, bốn anh cả là SSI, VCBS, BSC, ACBS đã giành hết 80% thị phần môi giới.

Template Designed by Douglas Bowman - Updated to Beta by: Blogger Team
Modified for 3-Column Layout by Hoctro